MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ở Việt Nam, trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về các loài trong họ Theaceae và trong chi Camellia, nhưng việc nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một số loài cây lấy lá làm dược liệu, chế biến nước giải khát, còn việc nghiên cứu chi Camellia với mục đích phân loại, thống kê, bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học… vẫn còn ít, chưa toàn diện. Trong những năm gần đây, chi Camellia đã thực sự được các nhà thực vật học quan tâm, chú ý đến. Việt Nam được các nhà khoa học xác định nằm trong trung tâm đa dạng sinh học của các loài Trà được tìm thấy ở một số khu vực như Tam Đảo, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Tuyên Quang, Yên Bái, Cúc Phương.
Việt Nam được xác định là trung tâm phân bố các loài thuộc Camellia và là một trong hai quốc gia trên thế giới (Việt Nam, Trung Quốc) hiện tại có trà hoa vàng trong môi trường tự nhiên (Ming Tien – Lu, 2000; Ninh T. Cây Trà hoa vàng vốn là loại cây mọc tự nhiên và có từ rất lâu, nhưng phải đến gần đây, người dân mới biết được giá trị đích thực của cây trà hoa vàng. Đây không chỉ là cây có giá trị kinh tế cao, mà còn là loài dược liệu quý. Theo Camellia International Journal - Tạp chí chuyên nghiên cứu về trà hoa vàng của thế giới, các hợp chất của trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8%; giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu.
Ngoài ra, loại trà này còn có khả năng làm giảm triệu chứng xơ vữa động mạch do máu nhiễm mỡ, điều hoà huyết áp và chữa các bệnh về tim mạch, tiểu đường, u bướu…(Camellia-ics, org) [23]. Luan van 2 Ngoài ra, Trà hoa vàng còn là một loài cây cảnh quan được ưa chuộng do màu vàng của Trà hoa vàng rất đặc trưng, khó có thể tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính. Trà hoa vàng còn có giá trị sử dụng để lấy gỗ, có thể làm cây trồng tầng dưới ở các đai rừng phòng hộ. Ngày nay, các nhà thực vật học thế giới xem các loài Trà hoa vàng là nguồn gen quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt (Trần Ninh, Hakoda Naotoshi, 2010) [7].
Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ cũng đã nêu rõ Quy hoạch 08 vùng trồng dược liệu có thế mạnh, phù hợp với điều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu và sinh thái để đáp ứng nhu cầu thị trường, trong đó có tỉnh Yên Bái. Yên Bái là một tỉnh vùng Tây Bắc của Việt Nam, có những tiểu vùng khí hậu và thổ nhưỡng rất phù hợp với phát triển các cây dược liệu nói chung và cây trà hoa vàng nói riêng. Tại Yên Bái, theo thông tin thu thập được cây Trà hoa vàng có xuất hiện ở các xã thuộc huyện Văn Yên, Yên Bình, Lục Yên. Do có giá trị dược lý và kinh tế cao, trong thời gian qua, người dân địa phương đã phát hiện và khai thác Trà hoa vàng trong tự nhiên (hủy diệt theo cách đào cả rễ) để bán cho các tư thương với giá hơn 1 triệu đồng/kg nụ hoa tươi.
Bên cạnh đó người dân các vùng này đang có phong trào đi đào cây trà hoa vàng mọc tự nhiên trong rừng về trồng vì chúng có giá trị cao, có những cây giống trị giá hàng triệu đồng. Việc khai thác một cách triệt để không những phá vỡ cân bằng sinh thái của rừng mà còn làm cạn kiệt nguồn tài nguyên quý hiếm từ tự nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua sẽ dẫn đến các loài Trà hoa vàng mọc tự nhiên ở tỉnh Yên Bái đã bị giảm sút nghiêm trọng. Tại địa bàn nghiên cứu chưa có những giải pháp bảo tồn và phát triển có hiệu quả loài thực vật này, đồng thời chưa có mô hình vườn ươm nhân giống vô tính (người dân chủ yếu khai thác cây con mang từ rừng về nhà Luan van 3 trồng). Cho đến nay những nghiên cứu các biện pháp nhân giống để bảo tồn và phát triển các loài trà hoa vàng ở Việt Nam còn rất hạn chế.
Vì thế, việc nghiên cứu các biện pháp nhân giống, chăm sóc để bảo tồn và phát triển các loài Trà hoa vàng tại tỉnh Yên Bái là một việc rất cần thiết. Nhằm góp phần vào công tác bảo tồn và phát triển loài trà hoa vàng, ngăn chặn các tổn thất đa dạng sinh học, đồng thời tạo hướng sản xuất hàng hóa loài cây này phục vụ nhu cầu cây cảnh, cây dược liệu, tăng thu nhập cho người dân địa phương, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng Bimix đến khả năng nhân giống bằng phương pháp giâm hom của cây Trà hoa vàng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”. Mục tiêu Xác định được nồng độ của chất điều hòa sinh trưởng Bimix super roots cho khả năng nhân giống tốt nhất, góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống bằng giâm hom cây Trà hoa vàng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Yêu cầu của đề tài - Xác định ảnh hưởng của nồng độ chất điều hoà sinh trưởng Bimix super roots đến tỷ lệ sống của hom Trà hoa vàng; - Xác định ảnh hưởng của nồng độ chất điều hoà sinh trưởng Bimix super roots đến khả năng sinh trưởng chồi của hom Trà hoa vàng; - Xác định ảnh hưởng của nồng độ chất điều hoà sinh trưởng Bimix super roots đến tỷ lệ ra mô sẹo và khả năng ra rễ của hom giâm Trà hoa vàng.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng nhân giống Trà hoa vàng. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu Trà hoa vàng.Ý nghĩa trong thực tiễn - Kết quả của đề tài góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống Trà hoa vàng, đồng thời góp phần vào việc bảo tồn và phát triển nguồn gen quý Trà hoa vàng tại tỉnh Yên Bái. - Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển cây Trà hoa vàng thành sản phẩm hàng hóa có giá trị cao từ lâm sản ngoài gỗ, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo của tỉnh Yên Bái.
Luan van 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để cung cấp hạt hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các bước cải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp. Nhân giống bằng hom (cutting propagation) là một trong những phương pháp nhân giống sinh dưỡng. Đó là việc dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành, hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di truyền như của cây mẹ (Nguyễn Hiền, 2011) [3].
- Ưu điểm của giâm hom: + Hệ số nhân cao: Từ một cây mẹ, giống tốt có thể lấy được nhiều cành hom để tạo ra nhiều cây con. Trong khi chiết không cho phép lấy nhiều cành trên một cây; + Giữ nguyên đặc tính cây mẹ, chất lượng và tính chống chịu ổn định: Trong giâm hom đặc tính di truyền, phẩm chất và tính trạng trội của cây mẹ được giữ nguyên. Có khả năng khống chế số lượng đực hoá; + Năng suất, sản lượng cao: Cây giâm hom hầu hết đều ra quả nhanh hơn cây trồng bằng hạt, vì nó hoàn thành diện tích tán lá cần thiết để ra hoa sớm hơn (Mai Quang Trường, Lương Thị Anh, 2007) [12]. - Nhược điểm của giâm hom: Giâm hom đòi hỏi kỹ thuật công phu, giá thành cao hơn nhân giống bằng hạt (chi phí cao gấp 6 - 8 lần so với trồng bằng hạt).
Hạn chế tuổi của cây mẹ lấy hom (Mai Quang Trường, Lương Thị Anh, 2007) [12]. Cơ sở tế bào học Theo Viện sĩ Maximop, mỗi bộ phận của cây, ngay đến mỗi tế bào đều có tính độc lập về mặt sinh lý rất cao. Chúng có khả năng khôi phục lại các cơ Luan van 6 quan, bộ phận không đầy đủ và trở thành một cá thể mới hoàn chỉnh. Trong cơ thể thực vật, nước và các khoáng chất hoà tan được vận chuyển từ rễ lên lá theo mạch gỗ còn các sản phẫm hữu cơ sản xuất ở lá được chuyển xuống gốc (rễ, củ,…) theo mạch rây.
Khi ta cắt đứt con đường vận chuyển theo mạch rây, các sản phẩm hữu cơ sẽ tập trung ở các tế bào vỏ của phần bị cắt. Các chất hữu cơ này cùng với chất điều hoà sinh trưởng Auxin nội sinh(được tổng hợp ở ngọn cây chuyển xuống) sẽ kích thích sự hoạt động của tượng tầng và hình thành mô sẹo, rồi sau đó hình thành rễ từ mô sẹo ở chỗ bị cắt, khi gặp điều kiện thuận lợi. Quá trình hình thành rễ bất định này có thể chia làm ba giai đoạn: - Giai đoạn 1: Tái phân chia tượng tầng. - Giai đoạn 2: Xuất hiện mầm rễ.
- Giai đoạn 3: Sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ đâm qua vỏ ra ngoài. Năm 1992, nhà sinh lý thực vật người Đức Haberladt đã tiến hành đã tiến hành nuôi cấy mô tế bào thực vật để chứng minh tế bào là toàn năng. Tế bào có tính toàn năng thể hiện như sau: Bất cứ tế bào nào hoặc mô tế bào nào thuộc cơ quan như rễ, than, lá đều chứa hệ gen giống như tất cả các tế bào sinh dưỡng khác trong cơ thể, đều có khả năng Sinh sản vô tính để tạo thành cây hoàn chỉnh (Phạm Văn Tuấn, 1998) [15]. Khả năng hình thành rễ và than phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây làm giống cũng giống như loài tế bào đã phân hoá của cây.
Cơ sở di truyền học Sinh vật bậc cao được phát triển từ một tế bào hợp tử qua nhiều lần phân bào liên tiếp cùng với quá trình phân hoá các cơ quan. Trong suốt quá trình phân bào số lượng (NST) của tế bào khởi đầu và tế bào mới được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm hay nguyên phân. Kết Luan van 7 quả từ một tế bào ban đầu cho hai tế bào con có số lượng NST cũng như cấu trúc và thành phần hoá học giống như tế bào ban đầu (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [6]. Nhờ có quá trình nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều, chính xác cho các tế bào con.