Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về loài Sói rừng trên thế giới * Phân loại Sói rừng Sói rừng có tên khoa học là Sarcandra glabra (Thunb. Ngoài ra còn có tên khác như Chloranthus brachystachys Blum, Chlorathus glaber (Thunb.) Makino, Sarcandra chloranthus Gardeno, thuộc họ Chloranthaceae. * Đặc điểm sinh thái học và phân bố Cây Sói rừng phân bố ở nhiều nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam và Malaysia.
Sói rừng là loài cây bụi thường xanh. Mép lá có răng cưa nhọn và thô, kèm với các tuyến. Cuống lá dài 5–8 mm. Bông kép, ít nhánh, nhánh ngắn với hoa nhỏ màu trắng không có cuống và có một nhị.
Bầu nhụy có hình trứng và không có vòi. Cây ra quả mọng nhỏ, hình gần tròn (Thomas, 2006). * Giá trị của cây Sói rừng Ở Trung Quốc, cây được dùng để chữa một số bệnh ung thư: ung thư tụy, dạ dày, trực tràng, gan, lỵ, gãy xương, thấp khớp, đau lưng, cảm mạo, kinh nguyệt không đều, hoa được dùng để ướp trà. Các nhà khoa học Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản kết luận rằng thành phần hóa học chủ yếu của cây Sói rừng là: sesquiterpen lactose, curmarin, flavonoid (Collons, 1992).
Hiện các tài liệu tìm thấy về cây Sói rừng chỉ tập trung nghiên cứu về các hoạt chất hóa học của loài trong hỗ trợ điều trị bệnh. Kang et al., (2008) đã nghiên cứu tác dụng ức chế khối u của dịch chiết S. glabra và gây chết tế bào gây ung thư biểu mô mũi - họng ở người. Kết quả cho thấy dịch chiết Sói rừng ngăn cản sự phát triển khối u in vivo.
* Nghiên cứu về nhân giống Nghiên cứu bảo tồn và phát triển Sói rừng đã được quan tâm đặc biệt ở Trung Quốc. Sói rừng có thể được nhân giống hữu tính bằng hạt, hoặc vô tính bằng giâm hom, nuôi cấy mô tế bào. glabra được nhân giống bằng giâm hom. Cây 2 năm tuổi cho tỷ lệ hom ra rễ đạt 88,7% sử dụng hom nhúng vào dung dịch 200mg/L ABT-1 trong 30 phút (Qiu, 2012; Zhu et al., 2010); 82% khi xử lý với dung dịch 200mg/L IBA (Liu et al.
Luan van 4 Zhu et al., (2010) đã nghiên cứu tạo rễ in vitro trên môi trường MS, kết quả NAA không có tác dụng cải thiện ra rễ. Môi trường tốt nhất cho ra rễ là 1/2MS+IBA 0.2 mg/L+sucrose30 g/L hoặc 1/4 MS+IBA 0. Li et al., (2008) đã nhân giống in vitro cây Sói rừng trên môi trường MS, 80 % chồi phát sinh trên môi trường MS+BA 1. Môi trường cấy chuyển là MS + BA 2.0 mg/L +NAA0 3 mg/L cho hệ số nhân chồi là 6.
Môi trường tốt nhất cho ra rễ là 1/2 MS+NAA 1.0 mg/L với tỷ lệ 100 %. Zhu et al., (2007) đã thu được mẫu cấy vô trùng bằng cách nhúng mẫu trong cồn 75% trong 30 giây, sau đó bằng HgCl2 0. Tiếp đó rửa bằng nước vô trùng và nhúng vào dung dịch 120 mg/l rifampicin trong 4 ngày; Cuối cùng mẫu được nhúng vào HgCl2 0.1% và rửa bằng nước vô trùng và cấy vào môi trường tái sinh chồi. Zhu et al., (2011) đã nghiên cứu nhân giống cây cấy mô và đánh giá tác dụng dược lý của cây Sói rừng.
Những nghiên cứu về loài Sói rừng ở Việt Nam * Phân loại Sói rừng Sói rừng có tên khoa học là Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai, thuộc Giới Plantae, bộ Chloranthales, Họ Chloranthacae, Chi Sarcandra, Loài S. Ở Việt Nam cây Sói rừng còn có một số tên gọi khác như: Sói lãng, Sói nhẵn, cửu tiết kim túc lan, cửu tiết trà, cửu tiết phong, trúc tiết trà, tiếp cốt liên, thảo sách hồ, tiếp cốt mộc (Phạm Hoàng Hộ, 2006). * Đặc điểm thực vật học Sói rừng thuộc họ Hoa sói (Chloranthaceae). Cây Sói rừng có chiều cao 1-2 m, thân nhẵn, các mấu hơi phồng.
Nhánh cây tròn, không có lông, với các lá mọc đối, phiến dài hình bầu dục hay hình ngọn giáo, chiều dài 7-20 cm và rộng 2-8 cm với 5-7 cặp gân bên. Mép lá có răng cưa nhọn và thô, kèm với các tuyến. Cuống lá dài 5-8 mm. Bông kép, ít nhánh, nhánh ngắn với hoa nhỏ màu trắng không có cuống và có một nhị.
Bầu nhụy có hình trứng và không có vòi. Cây ra quả mọng nhỏ, hình gần tròn đường kính 3-4 mm, khi chín có màu đỏ hay đỏ gạch. Cây ra hoa vào tháng 6-7 và quả chín vào tháng 8-9 (Võ Văn Chi, 1997). Luan van 5 * Đặc điểm sinh thái và phân bố Sói rừng mọc hoang ở vùng núi đất, ở bìa rừng và ven đồi ẩm nhiều nơi và độ cao lên đến 1000 m.
Thu hái toàn cây vào mùa hạ thu, dùng tươi hay phơi khô trong râm (Võ Văn Chi, 1997). Ở Việt Nam cây mọc từ Hà Giang (Vị Xuyên), Sơn La (Mộc Châu), Cao Bằng (Thạch An, Nguyên Bình, Tĩnh Túc), Lạng Sơn (Hữu Lũng, Bắc Sơn), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Nội (Hà Tây), Thừa Thiên Huế, Kom Tum (Đác lây, KonPlong), Lâm Đồng (Đà Lạt, Bảo Lộc) (Võ Văn Chi, 1997). * Giá trị của cây Sói rừng Sói rừng là cây dược liệu có hiệu quả kinh tế cao đang thu hái nhiều tỉnh miền núi nước ta. Giá bán trên thị trường thân cành Sói rừng có giá khoảng 150.
Theo Đông y, cây Sói rừng có vị đắng cay, tính hơi ấm, có tác dụng hoạt huyết giảm đau, khử phong trừ thấp, tiêu viêm giải độc. Trong dân gian, rễ cây được ngâm rượu, uống chữa đau tức ngực. Lá được sắc uống trị bệnh lao, hoặc giã đắp chữa rắn cắn, ngâm rượu xoa bóp chữa vết thương, mụn nhọt, phong thấp, đau nhức xương khớp (Đỗ Huy Bích, 2004). * Nghiên cứu về nhân giống Mai Hoàng Oanh (2016) đã nghiên cứu mẫu Sói rừng thu nhận từ Lạng Sơn, tách chiết và tinh sạch được DNA tổng số.
Nhân bản thành công hai vùng gen ITS và rpoC1 bằng phương pháp PCR và tạo dòng thành công hai gen nhân bản được, đã xác định được trình tự nucleotide của 2 đoạn gen rpoC1 và ITS. Bùi Văn Trọng và Cs (2015) đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng tới sự hình thành rễ của hom cây Sói rừng tại Lâm Đồng. Nhóm tác giả đã sử dụng NAA ở nồng độ 1% cho kết quả giâm hom Sói rừng tốt nhất đạt 86.67%, hom sống và ra rễ, số lượng rễ trung bình là 5.08 rễ/hom, chiều dài rễ trung bình là 3,68 cm so với đối chứng (66,67%; 3,9; 3,65 cm, tương ứng). Le Hong En et al., (2016) đã nghiên cứu nhân giống Sói rừng bằng giâm hom.
Tác giả đã sử dụng IBA, IAA, NAA để nghiên cứu tác dụng của chất kích Luan van 6 thích ra rễ. Nồng độ IBA 1-1,5% cho ra rễ tốt nhất. Hom bánh tẻ cho ra rễ tốt hơn các loại hom khác. Nguyễn Quỳnh Anh (2013), đã Nghiên cứu ứng dụng cây Sói rừng ở Cao Bằng để hỗ trợ điều trị một số bệnh ung thư, Tác giả đã nghiên cứu quy trình bào chế và dạng bào chế thành phẩm từ cây Sói rừng.
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được quy trình Nghiên cứu làm viên tế; Nghiên cứu làm dạng thuốc bột (thuốc tán); Nghiên cứu làm dạng cao thuốc (cao nước); Nghiên cứu dạng cốm tan, dạng cốm tan được sản xuất theo chuyên luận cốm DĐVN III với phương pháp sát hạt ướt, sấy khô ở nhiệt độ phù hợp với từng loại hoạt chất, đóng gói trong bao bì không hút ẩm. Cây Sói rừng *Tóm lại: Sói rừng là loài cây dược liệu có nhiều giá trị quý, tuy nhiên ở Việt Nam và trên thế giới có rất ít các công trình nghiên cứu về loài này, các nghiên cứu còn tản mạn chưa tập trung và chưa hệ thống, chủ yếu tập trung thống kê, phân loại, một số công trình khác tập trung nghiên cứu về nhân giống, điều kiện gây trồng nhưng chung chung chưa đưa ra được các phương pháp hiệu quả. Để bảo tồn và phát triển loài Sói rừng một cách rộng rãi và đem lại hiệu quả kinh tế cao cần có các bước nghiên cứu từ đặc điểm sinh học, sinh thái học đến các Luan van 7 biện pháp nhân giống cụ thể để từ đó xác định được các vùng trồng và áp dụng các phương pháp nhân giống phù hợp với từng địa phương. Tổng quan về giâm hom Giâm hom là phương pháp nhân giống vô tính cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng.
Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom là phương pháp nhân giống đem lại hiệu quả cao và được áp dụng phổ biến cả trong và ngoài nước trong suốt thời gian qua. Phương thức này dựa trên cơ sở phân bào nguyên nhiễm không có sự kết hợp vật chất di truyền giao hợp giữa giao tử cái và giao tử đực nên cây mới tạo ra mang đầy đủ vật chất di truyền của cây mẹ (Lê Đình Khả và CS, 2003). Nhân giống bằng hom là phương pháp sử dụng đoạn thân, cành, lá để tạo ra 1 cây mới mang đặc tính di truyền của cây mẹ. Đây là phương pháp tương đối dễ thực hiện, hệ số nhân giống cao nên được áp dụng phổ biến trong công tác nhân giống cây trồng.
Các loại hom được dùng trong nhân giống: có thể là thân cây non, cành, lá, rễ. Hom thân và hom cành: là hom được cắt từ một phần của thân cây non, từ chồi vượt hoặc cành non của cây. Như một số loại tre, luồng. hom giâm có thể là một đoạn thân, một đoạn thân có gốc, đoạn cành hoặc đoạn gốc cành sát thân.
Hom của các loài thân gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây. Các loại cành giâm thường là cành non, cành hóa gỗ yếu, cành nửa hóa gỗ, cành hóa gỗ. Hom rễ là loại hom được cắt từ rễ cây. Một số loại cây có thể dùng rễ để giâm hom như Xoan, Long não, Lê, Hồng.
Ngoài ra ở một số loài thực vật người ta có thể giâm hom từ lá (thu hải đường, Sống đời,.) hoặc từ củ (Khoai lang, Khoai tây,.) Ở một số loài khi nhân giống hom thường có hiện tượng bảo lưu cục bộ là hiện tượng mà cây hom tiếp tục sinh trưởng và phát triển hình thái theo đặc trưng của cành được lấy từ cây mẹ. * Cơ sở tế bào học Tế bào chứa bộ nhiễm sắc thể mang đầy đủ thông tin di truyền cho quá trình phát triển của sinh vật. Trong quá trình sinh sản vô tính, cây con được tạo ra có nguồn gốc từ bản sao của cây mẹ. Luan van 8 * Cơ sở di truyền học Trong quá trình sinh trưởng phát triển trải qua nhiều lần phân bào liên tiếp cùng với quá trình phân hóa các cơ quan.
Quá trình phân bào giảm nhiễm kết quả từ 1 tế bào mẹ cho ra 2 tế bào con mang bộ nhiễm sác thể y hệt tế bào mẹ.