MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu Ở nước ta, các loại rau họ thập tự (rau cải, su hào, súp lơ, bắp cải…) có giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế cao, nhiều người ưa thích và được trồng rộng rãi. Rau cung cấp cho chúng ta những dinh dưỡng cần thiết như protein, axit hữu cơ, vitamin và các chất khoáng (Thái Thị Ngọc Lam,2008). Tuy nhiên, rau họ thập tự có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, được trồng gối vụ liên tục, thu hoạch rải rác từng đợt không tập trung, cùng với đặc điểm thân, lá mềm yếu, chứa nhiều chất dinh dưỡng, kết hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm của nước ta, nên bị nhiều loại sâu phá hoại như sâu tơ, sâu xanh bướm trắng… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và phẩm chất rau (Lê Văn Trịnh,1999).
Trong tập đoàn sâu hại rau họ thập tự thì sâu xanh bướm trắng là loại dịch hại nguy hiểm nhất cho các vùng trồng rau. Hàng năm chúng phát sinh từ 14-15 lứa, với mật độ cao (Thái Thị Ngọc Lam,2008). Rau xanh cung cấp những dinh dưỡng cần thiết như protein, axit hữu cơ, vitamin và các chất khoáng, là nhu cầu không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người. Đặc biệt, khi lương thực và thức ăn giàu đạm được đảm bảo thì yêu cầu về số lượng, chất lượng rau ngày càng tăng, như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng, kéo dài tuổi thọ (Thái Thị Ngọc Lam,2008).rapae là một loài bướm cỡ nhỏ tới trung bình thuộc họ Pieridae.
Nó được cho là có nguồn gốc ở Địa Trung Hải và phổ biến ở Châu Âu và Châu Á. Con bướm có thể được nhận biết bởi màu trắng của nó với những chấm đen nhỏ trên cánh của nó. Sâu xanh bướm trắng (P.rapae) phá hoại mạnh trên họ rau hoa Thập tự, phổ biến nhất là cải xanh, bắp cải, su hào và súp lơ. Rất ít bắt gặp trên xà lách, rau diếp (Thái Thị Ngọc Lam,2008).
Sâu non thích ăn lá non, đỉnh sinh trưởng. Từ giai đoạn hai trở lên, chúng gặm phiến lá và chỉ còn lại gân lá. Chất thải của chúng có thể làm hỏng lá. Vì vậy, nếu mật độ cao, ruộng rau sẽ trơ trụi và sơ xác, ảnh hưởng nghiêm trọng tới 1 năng suất của bà con nông dân.
Sâu gây hại ở tất cả các tuổi và thời kỳ của cây rau họ hoa thập tự. Sâu thường ăn gặm vào lúc nắng ấm vào buổi sáng lúc 7- 11giờ và lúc chiều mát từ 15-17giờ. Nếu thời tiết thuận lợi, sâu có thể ăn gặm cả ngày. Nhiệt độ thuận lợi cho sâu phát triển và ăn gặm là từ 24-30°C, ẩm độ là 70-90% (Thái Thị Ngọc Lam,2008).
Để phòng trừ sâu hại họ hoa thập tự nói chung và sâu xanh bướm trắng nói riêng, cho đến nay, người nông dân chủ yếu sử dụng biện pháp hóa học. Tại các vùng chuyên canh rau, thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng nhiều và liên tục đã gây tác hại nghiêm trọng như phá vỡ cân bằng hệ sinh thái, tạo nên tính kháng thuốc của một số dịch hại ngày càng tăng. Ở lĩnh vực này, chiết xuất dịch chiết là một biện pháp phổ biến. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn còn tồn tại những hạn chế.
Nó mẫn cảm với điều kiện môi trường, chậm lớn và đôi khi không thể đoán trước được (Thái Thị Ngọc Lam,2008). Vì những lý do trên nghiên “Nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết Bồ Hòn (Sapindus Mukorossi) lên sâu xanh bướm trắng (Pieris Papae L.)”, đã được thực hiện nhằm tìm ra những dịch chiết từ cây Sapidus Mukorossi có hiệu quả trừ sâu P. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Thử nghiệm tác động của dịch chiết Sapindus Mukorossi đến sâu xanh bướm trắng 1.
Yêu cầu Đánh giá được độc tính của dịch chiết Sapindus Mukorossi đối với sâu xanh tuổi 3. Đánh giá được tác dụng ngán ăn của dịch chiết Sapindus Mukorossi đối với sâu xanh tuổi 3. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Sâu xanh bƣớm trắng (Pieris rapae L.) Tên khoa học Lepidoptera Họ Pieridae Chi Pieris Loài P.Rapae Tên Pieris rapae Sâu xanh bướm trắng gây hại chủ yếu trên rau họ Thập tự như bắp cải, cải xanh, su hào… Chúng chủ yếu ăn lá non và đỉnh sinh trưởng.
Khả năng gây hại ở các tuổi sâu là khác nhau, dựa vào vết cắn của sâu ta có thể nhận biết được mức độ gây hại và tuổi sâu đang có mặt trên đồng ruộng (Lam, 2015). rapae là loài bướm trắng nhỏ gây hại chính trên cây bắp cải. Trong nhiều năm qua nó đã trở thành loài bướm phong phú nhất và bên cạnh đó cũng là loài có khả năng gây hại lớn nhất tới nền nông nghiệp (Ryan & cs. rapae là một loài bướm có kích thước nhỏ tới trung bình thuộc họ Pieridae.
Con bướm có thể được nhận biết bởi màu trắng của nó với nhứng chấm đen nhỏ trên cánh của nó. Các loài thực vật ưa nóng của họ là các loại cây họ cải như bắp cải, bông cải canh,, cải xoăn… P. rapae được tìm thấy ở Địa Trung Hải và phổ biến ở Châu Âu và Châu Á, nhưng hiện nay nó đã xuất hiện ở Úc và New Zealand. Loài này đã lan rộng đến tất cả các vùng sống ở Bắc Mỹ từ Lower Austral / Lower Sonoran đến Canada.
Các ước tính cho thấy rằng một con cái duy nhất của loài này có thể là tổ tiên trong một vài thế hệ hàng triệu. Nó không có hoặc khan hiếm ở các vùng sa mạc và bán đảo (ngoại trừ các vùng được tưới tiêu). Nó không được tìm thấy ở phía bắc vùng sinh sống của Canada, cũng như trên quần đảo Channel ngoài khơi phía nam California. Đến năm 1898, màu trắng nhỏ đã lan đến Hawaii… đến năm 1929, nó đã đến được New Zealand và khu vực xung quanh Melbourne, Úc, và tìm đường đến Perth sớm nhất vào năm 1943 (Birne, 1971).
3 Sâu xanh bướm trắng có phổ thức ăn hẹp (chỉ gây hại trên họ hoa thập tự), vòng đời ngắn, khi nhiệt độ cao và khả năng sinh sản lớn thì nguy cơ bùng phát dịch trên đồng ruộng rất lớn (Trương Xuân Lam, 2009). Sâu xanh bướm trắng phá hoại mạnh trên họ rau hoa thập tự, phổ biến nhất là cải xanh, bắp cải, su hào và súp lơ, rất ít bắt gặp trên xà lách, rau diếp. Sâu non thích ăn lá non, đỉnh sinh trưởng (Thái Thị Ngọc Lam, 2008). Tập tính gây hại của sâu xanh bướm trắng phá hại ở pha sâu non với 5 tuổi, khả năng gây hại ở các tuổi sâu khác nhau, sức gây hại thể hiện qua những vết cắn để lại trên lá.
Dựa vào vết cắn của sâu có thể nhận biết được mức độ gây hại và tuổi sâu đang có mặt trên đồng ruộng. Ở tuổi 1 sâu non sau khi mới nở có tập tính ăn vỏ trứng. Sau khi khô lớp da bên ngoài cơ thể, sâu non bắt đầu tiến hành ăn lá. Lúc này, sâu non chuyển dần từ màu vàng sang màu xanh nhạt.
Ban đầu, sâu non chỉ gặm phần thịt lá (phần biểu bì của lá) trừ lại lớp màng mỏng và tạo ra những lỗ nhỏ li ti ở bề mặt lá. Ở tuổi 2 các vết cắn để lại có kích thước rộng hơn. Sâu non chủ yếu ăn phần diệp lục của lá hoặc tạo ra lỗ thủng nhỏ trên bề mặt lá. Nếu mật độ sâu nhiều, khả năng cạnh tranh thức ăn cao, sâu non tuổi 2 vẫn có thể gặm thủng lá rau với diện tích phá hoại lớn.
Ở tuổi 3 sâu non hoạt động nhanh nhẹn, sức ăn lớn hơn so với tuổi 2. Sâu gặm thủng lá, di chuyển nhanh và ăn khuyết mép lá. Sâu gặm từ ngoài mép lá vào trong, khi đói có thể gặm cả cùi non của lá. Ở tuổi 4: Hoạt động gây hại diễn ra mạnh.
Sâu non có thể gặm hết lá chỉ chừa lại gân lá. Sâu ăn rất nhanh, ăn tới đâu, di chuyển và thải phân tới đó. Ở tuổi 5, đây là giai đoạn sâu phá hại mạnh nhất. Với kích thước cơ thể lớn, hoạt động nhanh nhẹn nên chúng phàm ăn.
Lá bị phá hoại hoàn toàn, mật độ sâu cao, rau không còn lá chỉ trơ lại cùi. Cuối tuổi 5, sâu ngừng ăn, tìm vị trí an toàn, nhả tơ và nằm im trước khi hóa nhộng 1 ngày (thời kỳ tiền hóa nhộng). Cơ thể sâu có màu xanh đậm, ở giữa sống lưng có 1 đường vạch vàng chạy suốt 4 thân. Sâu tuổi 5 có màu đậm hơn và da dày hơn.
Trên các đốt thân có 1 điểm màu vàng và 1 lỗ thở màu nâu mỗi bên. Sâu non tuổi 4, tuổi 5 phá hại nghiêm trọng nhất trong pha sâu non (Thái Thị Ngọc Lam, 2008). Sâu gây hại ở tất cả các tuổi và thời kỳ của cây rau họ hoa thập tự. Sâu thường ăn gặm vào lúc nắng ấm vào buổi sáng lúc 7-11giờ và lúc chiều mát từ 15- 17giờ.
Nếu thời tiết thuận lợi, sâu có thể ăn gặm cả ngày. Nhiệt độ thuận lợi cho sâu phát triển và ăn gặm là từ 24-30 °C, ẩm độ là 70-90%. Nếu xuất hiện điều có thể bay ngay. Sau 30- 40 giờ thì trưởng thành bắt đầu hoạt động giao phối.
Quá trình ve vãn kéo dài, con đực và con cái bay chập chờn, vườn nhau rồi bay cuốn vào nhau. Sau khi con cái tìm được vị trí đậu, tiếp theo con đực sà xuống và bắt đầu quá trình giao phối. Quá trình giao phối diễn ra từ 5-15 phút (trong điều kiện bán tự nhiên) và khoảng 3 phút ngoài đồng ruộng. Giao phối của sâu xanh bướm trắng là giao phối tĩnh, khi thực hiện giao phối 2 con ngoảnh bụng vào nhau, đầu hướng ra 2 phía, cánh khép lại che sát vùng bụng.
Quan sát cho thấy, chúng bay với nhau theo cặp trong quá trình ve vãn. Trưởng thành thường giao phối khi thời tiết ấm áp và khô sương: mùa đông từ 12-15 giờ; mùa hè từ 8-9 giờ sáng và 15-17 giờ chiều (Thái Thị Ngọc Lam, 2008). Trưởng thành sâu xanh bướm trắng đẻ trứng rải rác, không theo ổ trên bề mặt lá rau họ hoa thập tự. Trưởng thành cái chỉ đẻ trứng trong điều kiện khô sương: mùa đông vào khoảng 12-15 giờ; mùa hè từ 8-9 giờ sáng và 15-17 giờ chiều.
Trưởng thành bay và sà xuống mặt lá đẻ mỗi lần 1 quả. Khi vừa đậu vào, phần bụng co mạnh và đẩy 1 quả trứng dính ngay vào mặt lá. Trưởng thành cái có thể đẻ từ 50-200 trứng (Thái Thị Ngọc Lam, 2008). Vòng đời của P.
rapae có 4 giai đoạn: Trứng, sâu xanh, nhộng và bướm. Nó cần từ 3 đến 6 tuần tùy thuộc vào thời tiết và nhiệt độ. Sâu bắp cải có thể được tìm thấy nhiều nhất ở Việt Nam số lượng nhiều nhất vào thời điểm giao mùa từ thu sang đông.