MỞ ĐẦU Việt Nam là quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài thực vật. Điều này có thể thấy rõ qua sự đa dạng về số lượng và các chủng loại loài thực vật khác nhau. Theo thống kê mới nhất của Viện Dược liệu, nước ta có hơn 5.000 loài thực vật có thể sử dụng làm thuốc để chữa trị nhiều loại bệnh. Đây là nguồn tài nguyên rất lớn trong việc nghiên cứu phát triển các thuốc mới phục vụ cho việc chữa nhiều bệnh mà con người đang phải đối mặt như tim mạch, ung thư, tiểu đường, gout, alzheimer, … Do đó, hướng nghiên cứu, sàng lọc các loại thảo dược có công dụng chữa bệnh nhằm tìm kiếm các hợp chất tự nhiên mới có hoạt tính sinh học cao đã và đang nhận được sự quan tâm lớn từ các nhà khoa học trong nước và quốc tế.
Bệnh tiểu đường là căn bệnh mãn tính thường gây nhiều biến chứng nguy hiểm đối với người bệnh. Là nguyên nhân hàng đầu gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy thận giai đoạn cuối, mù lòa… Đái tháo đường được xem là một trong 4 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu và làm giảm tuổi thọ trung bình của con người từ 5 đến 10 năm. Theo Hiệp hội đái tháo đường thế giới (IDF), năm 2017, cứ trung bình 7 giây lại có một người chết do các biến chứng liên quan đến bệnh đái tháo đường và cứ 30 giây lại có một bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng bàn chân bị cắt cụt chi [1]. Hiện nay, số lượng bệnh nhân đái tháo đường vẫn đang gia tiếp tục tăng nhanh trên toàn thế giới.
Vì vậy, việc nghiên cứu các phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường đang rất được các nhà khoa học quan tâm. Cây lá đắng (Vernonia amygdalina), còn được gọi với các tên khác như khổ diệp thụ hay cúc ban cưu, là loại cây thường được sử dụng theo kinh nghiệm để chữa một số bệnh như cao huyết áp, táo bón, viêm dạ dày, viêm gan… Tại Việt Nam, V. amygdalina đã được một số bệnh nhân bệnh đái tháo đường sử dụng và cũng đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng lá cây này để điều trị bệnh đái tháo đường chủ yếu dựa theo kinh nghiệm truyền miệng, chưa có một nghiên cứu nào được tiến hành để 4 đánh giá toàn diện thành phần hóa học cũng như hoạt tính ức chế enzyme α- amylase và α-glucosidase của V.
amygdalina sinh trưởng tại Việt Nam. Từ những cơ sở trên tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu phân lập, xác định cấu trúc và đánh giá hoạt tính sinh học các hợp chất steroid từ cây lá đắng (Vernonia amygdalina)”. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHI Vernonia 1. Phân loại chi Vernonia ở Việt Nam Chi Vernonia Schreb.
Chúng phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi, Bắc và Nam Mỹ. Theo từ điển cây thuốc Việt Nam, có 15 loài thuộc chi Vernonia có thể sử dụng làm thuốc bao gồm: bạch đầu sát trùng (V. anthelmintica), bạch đầu nhám (V. aspera), bông bạc (V.
arborea), bạch đầu ông (V. cinerea), dây chè (V. cumingiana), dây dọi tên (V. elliptica), bạch đầu rau (V.
esculenta), bạch đầu to (V. solanifolia), bạch đầu Spire (V. spirei), bạch đầu lông (V. parishii), bạch đầu nhỏ (V.
paluta), bạch đầu lá liễu (V. saligna), bạch đầu bao gai (V. squarrosa), bạch đầu lá lớn (V. Các loài Vernonia thường được dùng để chữa trị các bệnh như: giun sán, viêm gan, đau dạ dày, sốt, ho, mụn nhọt, rắn cắn, viêm phế quản, bỏng lửa, sốt rét.
Hình ảnh của một số loài thuộc chi Vernonia. “Nguồn: Thư viện điện tử Wikipedia ” 1. Các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của chi Vernonia Hiện nay, các loài thuộc chi Vernonia đang nhận được sự quan tâm lớn của các nhà khoa học trên thế giới. Tuy nhiên, các công trình công bố về các loài thuộc chi Vernonia ở Việt Nam còn rất ít, vì vậy chưa có được đầy đủ cơ 6 sở khoa học để định hướng khai thác và phát triển nguồn dược liệu tiềm năng này.
Trong số 15 loài thuộc chi Vernonia được sử dụng để làm thuốc ở Việt Nam, V. anthelmintica là 1 trong 3 loài được công bố nhiều nhất. Các nghiên cứu cho thấy thành phần hóa học của loài V. anthelmintica chủ yếu là các steroid và sesquiterpenoid.
Các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học loài V. anthelmintica được bắt đầu từ năm 1968, Frost và cộng sự thông báo đã phân lập được 2 steroid từ hạt loài V. Trong các nghiên cứu tiếp theo về loài này, 7 steroid mới được thông báo phân lập từ hạt gồm 8,14,(Z)- 24(28)-stigmastatrienol (4), stigmasterol (5), 5-stigmasten-3β-ol (6), 7,22- stigmastadienol (7), 3-oxo-7,(Z)-24(28)-stigmastadiene (8), 5-α-stigmasta- 8(14),15,24(28)-triene -3β-ol (9), 4α-methylvernosterol (10) [4-7]. Bên cạnh đó, các hợp chất flavonoid, 2ʹ,3,4,4ʹ-tetrahydroxychancone (11), 4ʹ,5,6,7- tetrahydrohyflavone (12) và 3ʹ,4ʹ,7-trihydroxydihydroflanoe (13) cũng được phân lập từ hạt của V.
Kết quả thử nghiệm hoạt tính sinh học cho thấy dịch chiết ethanol từ hạt loài này có tác dụng hạ đường huyết ở chuột mắc bệnh tiểu đường do streptozotocin gây ra. Kết quả thử nghiệm cũng cho thấy với liều thử 0,5 g/kg, mức giảm đường huyết tối đa đạt 82% sau 6 giờ [9]. Hoạt tính gây độc tế bào ung thư máu cấp HL-60 của 2 sesquiterpenoid, vernodalidimer A-B (14-15) phân lập từ V. anthelmintica cũng đã được Liu và cộng sự thông báo với giá trị IC50 lần lượt là 0,72 và 0,47 μM [10].
7 Năm 2012, Hua và cộng sự đã phân lập được 6 steroid từ phần trên mặt đất của V. anthelmintica sinh trưởng ở Pakistan gồm vernoanthelsterone A (16), 24ξ-hydroperoxy-24-vinyllathosterol (17), (24R)-stigmast-7,22(E)-dien- 3β-ol (18), (22E,24R)-24-methyl-5α-cholesta-7,22-diene-3β,5,6β-triol (19), (22E,24S)-5α,8α-epidioxy-24-methyl-cholesta-6,22-dien-3β-ol (20), và (22E,24S)-5α,8α-epidioxy-24-methyl-cholesta-6,9(11),22-trien-3β-ol (21) [11]. Kết quả đánh giá tác dụng đối kháng vi sinh vật kiểm định của các steroid phân lập được cho thấy 4 hợp chất 16-19 có hoạt tính đối kháng với 8 các chủng Bacillus cereus, Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis và Escherichia coli với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) từ 7,25 đến 250 μg/mL [11]. Trong một nghiên cứu sau đó, Hua và cộng sự tiếp tục thông báo phân lập được 11 steroid gồm vernoanthelcin A–I (22–30) và ernoantheloside A-B (31-32) [12].
9 Năm 2014, Zhang và cộng sự đã thông báo 4 sesquiterpene lactone thuộc khung guaianolide và elemanolide, (1R,4R,5S,6R,7R,8S)-8,15- dihydroxyguaia-10(14),11(13)-dien-12,6-olide (33), (1R,4R,5S,6R,7R,8S,11S)-8,15-dihydroxyguaia-10(14)-en-6,12-olide (34), (4S,5R,6R,7R,8S,10R,11S)-11,13-dihydrovernolepin (35), (5R,6R,7R,8S,10R,11S)-melitensin (36) có hoạt tính gây độc tế bào ung thư đối với các dòng tế bào ung thư máu cấp HL-60 và ung thư biểu mô tuyến nội tiết SMMC-7721 với giá trị IC50 từ 24,54 - 28,00 μg/mL. Tuy nhiên, hoạt tính gây độc của các hợp chất này thấp hơn so với đối chứng dương (mitomycin) với giá trị IC50 lần lượt là 0,56 và 1,85 μg/mL [13]. Ba hợp chất elemanolide dimer mới, vernodalidimer C-E (37-39) được phân lập từ hạt V. anthelmintica cũng có tác dụng gây độc mạnh trên dòng tế bào ung thư vú T-47D với giá trị IC50 lần lượt là 5,58, 0,95 và 12,75 μM (đối chứng dương doxorubicin có giá trị IC50 là 25,50 μM).
Tuy nhiên, cả 3 hợp chất 37-39 đều không thể hiện hoạt tính gây độc đối với các dòng tế bào ung thư phổi A-549 và ung thư tuyến tiền liệt PC-3 với IC50 > 80 μM [14]. Ito và cộng sự (2016) đã phân lập được 5 sesquiterpene lactone gồm vernonilide A và B (40-41), vernomelitensin (42), vernodalin (43) và vernolepin (44) từ hạt V. Kết quả đánh giá hoạt tính cho thấy tất cả 5 hợp chất phân lập được đều có hoạt tính gây độc đối với các dòng tế bào ung thư A-549, Hela và MDA-MB231 với giá IC50 từ 0,25 đến 21,6 μM [15]. Gần đây, Turak và cộng sự cũng thông báo phân lập được 5 hợp chất sesquiterpene, vernodalidimer F-H (45-47), vernonilide C (48), vernonilide A (40) từ hạt của V.
anthelmintica thu ở Trung Quốc. Các hợp chất này đều thể hiện hoạt tính gây độc đối với 4 dòng tế bào ung thư ở người, bao gồm ung thư ruột kết HCT-15, ung thư tuyến tiền liệt PC-3, ung thư phổi A-549 và ung thư cổ tử cung Hela với giá trị IC50 từ 5,3 đến 56,1 μM [16]. Ngoài ra, dịch chiết từ loài V. anthelmintica cũng được thông báo có các hoạt tính khác như kháng vi sinh vật, ức chế tế bào ung thư, kháng viêm, chống oxi hóa, bảo vệ gan [17-20].
10 Loài Vernonia cinerea cũng được các nhà nghiên cứu trên thế giới rất quan tâm. Năm 1981, Gunasingh và cộng sự đã phân lập được 4 flavonoid từ hoa loài dược liệu này, gồm luteolin (49), luteolin-7-O-glucoside (50), isoorientin (51) và chrysoeriol (52) [21]. Các hợp chất thứ cấp thuộc lớp chất steroid, triterpenoid và acid béo cũng phân lập được từ loài V. cinerea như stigmast-5,17(20)-dien-3β-ol (53), 26-methylheptacosanoic acid (54) [22], 24- hydroxytaraxer-14-ene (55) [23], 3β-acetoxyurs-19-ene (56) [24], lupeol 11 palmitate (57), α-amyrin palmitate (58), stigmasterol-3-O-β-D- glucopyranoside (59) [25].
Năm 2003, Kuo và cộng sự đã phân lập được 2 sesquiterpene lactone mới, vernolide A và B (60-61) từ vỏ loài V. cinerea thu ở Đài Loan [26]. Cả hai hợp chất 60-61 đều có hoạt tính gây độc đối với các dòng tế bào ung thư người gồm ung thư biểu mô KB, ung thư biểu mô tuyến DLD-1, NCI-661 và ung thư cổ tử cung Hela. Hợp chất 60 thể hiện hoạt tính gây độc mạnh đối với cả 4 dòng tế bào ung thư KB, DLD-1, NCI-661 và Hela với giá trị ED50 lần lượt là 0,02, 0,05, 0,53 và 0,04 mM, trong khi đó hợp chất 61 có tác dụng gây độc đối với 3 dòng tế bào ung thư KB, NCI-661 và Hela với giá trị ED50 lần lượt là 3,78, 5,88 và 6,42 μM [26].
Trong một nghiên cứu khác, Pratheeshkumar và Kuttan cũng đã thông báo hợp chất 60 có tác dụng làm tăng các yếu tố như interleukin-2 (IL-2) và interferron-gamma (INF-γ), đồng thời làm suy giảm đáng kể các yếu tố tiền viêm như IL-1β, IL6; suy giảm yếu tố hoại tử khối u (TNF-α) và yếu tố kích thích đại thực bào bạch cầu (GM-CSF) trong quá trình di căn. Các bằng chứng này cho thấy hợp chất 60 có tác dụng tăng cường đáp ứng miễn dịch chống lại quá trình di căn của các tế bào ung thư B16F-10 ở chuột [27]. 12 Năm 2012, Youn và cộng sự đã phân lập được 9 hợp chất sesquiterpene lactone từ V. Cả 9 hợp chất (60-68) đều được đánh giá hoạt tính kháng viêm thông qua khả năng ức chế sự sản sinh NO trong đại thực bào RAW-264.7 được kích thích bởi LPS.
Kết quả cho thấy, các hợp chất 60-61, 65, 67-68 thể hiện hoạt tính kháng viêm mạnh với giá trị IC50 lần lượt là 2,4, 1,2, 2,0, 1,5 và 2,7 mM, cao hơn so với đối chứng dương L- NMMA (IC50 = 25,1 μM). Các hợp chất còn lại thể hiện hoạt tính kháng viêm yếu hơn với giá trị IC50 từ 5,7 đến 28,4 μM [28]. 13 Từ lá và vỏ của V.