MỞ ĐẦU Việt Nam có vị trí địa lý nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình nhiều đồi núi chia cắt nên điều kiện khí hậu cũng rất đa dạng, có nhiều tiểu vùng khí hậu khá đặc trưng. Những yếu tố trên đã tạo nên những điều kiện sinh thái, những thảm thực vật nhiệt đới rậm, ẩm, thường xanh, hoặc thưa, nửa rụng lá và cả các thảm thực vật mang tính cận nhiệt đới ở các khu vực núi cao. Theo ước tính của các nhà thực vật Việt Nam, nước ta có khoảng 12.000 loài, trong đó có khoảng 1/3 trên tổng số loài được nhân dân dùng làm thuốc. Rất nhiều loài trong số đó từ xa xưa đến nay đã được sử dụng trong y học cổ truyền và các mục đích khác phục vụ đời sống của con người như mật nhân Eurycoma longifolia, bạc hà Mentha arvensis, khổ qua Momordica charantia, ngũ da bì hương Acanthopanax trifoliatus, đương quy Angelica sinensis, sâm Ngọc Linh Panax vietnamensis, thìa canh Gymnema sylvestre,… đã trở nên rất quen thuộc.
Ngày nay, thế giới đang phải đối mặt với hàng loạt căn bệnh nguy hiểm, như: HIV-AIDS, cúm A H5N1, sốt rét, các căn bệnh liên quan đến nhiễm virus,… ngày một gia tăng. Mặc dù khoa học ngày nay đã và đang gặt hái được nhiều tiến bộ mới, cải thiện đáng kể các điều kiện sống của con người nhưng chúng ta ngày càng phải đối phó với các căn bệnh, dịch bệnh mới diễn biến một cách phức tạp và là những mối đe dọa thường trực đối với sức khỏe. Ngoài sự phong phú về thành phần chủng loại, nguồn dược liệu Việt Nam còn có giá trị to lớn trong việc điều trị các căn bệnh khác nhau trong dân gian. Các cây thuốc được sử dụng dưới hình thức độc vị hay phối hợp với nhau tạo nên các bài thuốc cổ phương, đang tồn tại phát triển đến ngày nay.
Ngoài ra, hàng trăm cây thuốc đã được khoa học y - dược hiện đại chứng minh về giá trị chữa bệnh của chúng. Xu hướng đi sâu nghiên cứu các cây thuốc và động vật làm thuốc để tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao nhằm sản xuất các loại thuốc có giá trị cao phục vụ cuộc sống ngày càng được thế giới quan tâm. Ở một số nước châu Á và châu Phi, 80% dân số phụ thuộc vào y học cổ truyền trong việc chăm sóc sức khỏe cơ bản. Thêm vào đó, ở nhiều nước phát triển, 70% đến 80% dân số đã sử dụng các cây thuốc hoặc chế phẩm của nó.
Các loài thảo mộc đã được sử dụng trong dân gian và được bổ sung bởi các nghiên cứu dược lý 2 đã tạo ra nhiều loại thuốc Tây có nguồn gốc từ thực vật. Trong vài thập kỉ qua, y học cổ truyền đã cung cấp cho thuốc Tây với hơn 40% tổng các loại thuốc. Do đó, các nghiên cứu đã tập trung vào việc đánh giá khoa học của các loại thuốc truyền thống có nguồn gốc thực vật. Trong số các loài thực vật kể trên, nhiều loài thuộc chi Qua lâu (Trichosanthes) được trồng rộng rãi và nhiều loài mọc tự nhiên ở nước ta và các nước trong khu vực.
Trong dân gian, một số loài thuộc chi Qua lâu được sử dụng làm rau ăn, một số loài được sử dụng làm thuốc chữa bệnh như: làm thuốc giải nhiệt, lợi tiểu, lợi sữa, giảm đường huyết hoặc chữa bệnh ngoài da, chữa bệnh đau đầu. Nhằm mục đích nghiên cứu làm rõ thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của một số loài thuộc chi Qua lâu (Trichosanthes), tôi đã lựa chọn tên luận án: ‘‘Nghiên cứu thành phần hóa học, hoạt tính sinh học của loài Trichosanthes baviensis Gagnep. (Dưa núi) và Trichosanthes kirilowii Maxim. Mục tiêu của luận án: Xác định thành phần hóa học chủ yếu của ba loài T.
kirilowii ở Việt Nam. Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư và hoạt tính ức chế enzym tyrosinase của các hợp chất phân lập được để tìm kiếm hợp chất có hoạt tính sinh học. Nội dung luận án bao gồm: 1. Phân lập các hợp chất từ ba loài thuộc chi Trichosanthes (T.
kirilowii) bằng các phương pháp sắc ký. Xác định cấu trúc hoá học các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp hoá lý. Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư và hoạt tính ức chế enzym tyrosinase của các chất phân lập được. Giới thiệu về chi Trichosanthes 1.
Đặc điểm thực vật của chi Trichosanthes Phân loại thực vật học của chi Trichosanthes được xác định như sau: Giới : Plantae Phân giới : Tracheobionta Ngành : Magnoliophyta Lớp : Magnoliopsida Bộ : Cucurbitales Họ : Cucurbitaceae Chi Qua lâu (Trichosanthes) là một chi lớn trong họ Bầu bí (Cucurbitaceae), bao gồm khoảng 100 loài và đang được các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm. Theo thống kê và mô tả sơ bộ của GS. Phạm Hoàng Hộ, Việt Nam có khoảng 12 loài Trichosanthes trong đó có 2 loài đặc hữu của Việt Nam là qua lâu Ba Vì (T. baviensis) và qua lâu Pierre (T.
Danh sách các loài thuộc chi Trichosanthes ở Việt Nam STT Tên thường Tên khoa học Phân bố gọi 1 Mướp tây Trichosanthes anguina L. Hà Giang, Khánh Hoà, Đồng Nai, Hồ Chí Minh 2 Qua lâu Ba Vì Trichosanthes baviensis Ba Vì (Hà Nội) Gagnep. Đồng Nai đến An Giang 4 Qua lâu nhiều T.Wu ex Các tỉnh phía Bắc lá bắc Cheng&Yueh 5 Qua lâu nhân Trichosanthes kirilowii Bắc Bộ, Ninh Thuận, Bình Maxim. Thuận 6 Qua lâu lá bắc Trichosanthes laceribractea Các tỉnh phía Bắc đều Hayata 7 Qua lâu trứng Trichosanthes ovigera Khắp nơi Blume 8 Qua lâu chân Trichosanthes pedata Merr.
Quảng Ninh vịt & Chun 4 9 Qua lâu pierre Trichosanthes pierrei Bà Rịa-Vũng Tàu Gagnep. 10 Qua lâu hoa Trichosanthes rubriflos Khắp nơi đỏ Thorel & Cayla 11 Lâu xác Trichosanthes tricuspidata Khắp nơi Lour. 12 Dây đỏ mỏ Trichosanthes villosa Blume Lào Cai, Ninh Bình, Kon Tum, Lâm Đồng, Bình Phước Các loài thuộc chi Trichosanthes L. hầu hết là những cây sống lâu năm trừ một số ít là cây hàng năm như loài T.
Các loài thuộc chi Trichosanthes L. đều là những loài thân thảo, leo quấn. Trên thân thường có khía sọc, có thể có lông hoặc không lông. Hơi rỗng phía trong lõi.
Lá: Cuống lá thường có lông măng, đôi khi nhẵn (T. truncata) hoặc phân 3-7 thùy, trong đó có loài T. & Chun có lá xẻ sâu đến tận gốc tạo thành dạng lá kép giả, với 3-5 lá phụ; các thùy lá thường hình trứng, thuôn dài hay hình mác. Phiến lá thường mỏng, bề mặt nhẵn hoặc có lông tơ hay lông măng.
Mép lá thường có răng cưa nhọn, hiếm khi nguyên. Phiến lá của một số loài có nhiều điểm trắng nhỏ, có thể ở cả gân lá (T. pedata); một số loài lá có điểm tuyến (T. Tua cuốn thường 2 – 5 tua, ít khi đơn độc.
Các dạng lá của chi Trichosanthes 5 Cụm hoa: Cây thường mang hoa phân tính khác gốc, riêng loài T. cucumerina có hoa phân tính cùng gốc. Cụm hoa đực: Hoa đực thường mọc thành cụm, thường ở đỉnh cành ít khi ở nách lá. Hoa đực nở từng hoa một đến khi hết, ít khi nở nhiều hoa trên cùng một cụm.
Lá bắc hình trứng (T. tricuspidata) hoặc hình thoi (T. pedata); kích thước thường từ 1-6,5 cm, hiếm khi là rất nhỏ hoặc tiêu biến (T. cucumerina); ống đài hình trụ, thường xòe ra ở đỉnh, chia 5 thùy, nguyên hoặc có răng cưa hoặc có khía; tràng phân 5 thùy, thường có tua dài ở mép; nhị 3, đính trên ống đài; chỉ nhị rất ngắn, tự do; bao phấn hợp sinh.
Hoa của một số loài thuộc chi Trichosanthes Hoa cái: Mọc đơn độc; đài và tràng giống với hoa đực; bầu hạ, hình trứng hay hình thuôn dài, 1 ô với 3 giá noãn; noãn nhiều; đầu nhụy 3 thùy, các thùy nguyên hoặc chẻ đôi. Hình gần cầu, có núm (2. Hình trứng thuôn dài (T. Quả rất dài (T.
Quả của một số loài thuộc chi Trichosanthes Quả: Quả hình cầu hoặc có dạng gần cầu (T. tricuspidata), hình trứng (T. pilosa) hay dạng quả dài (T. Quả chín màu đỏ (T.
tricuspidata), màu vàng đến đỏ cam (T. pedata) hoặc có sọc (T. Quả dạng thịt, vỏ quả nhẵn, mịn, hạt nhiều. 6 Hạt: Hạt được bao bởi thịt quả, nhiều hình dạng khác nhau.
Hạt thường 1 ô, hoặc 3 ô với 2 ô phụ rỗng (T. pilosa); hạt dẹt (T. baviensis) hoặc phồng (T. Vỏ hạt nhẵn hoặc xù xì, màu nâu vàng đến nâu đất.
Mép hạt nhẵn hoặc đôi khi uốn lượn (T. Một số có gờ nổi sát mép hạt hoặc ở giữa hạt [1]. Hạt thuôn dài (T. Hạt hình trứng-tam giác (T.
Hạt hình trứng phồng (T. Hạt hình tam giác, có 2 đường gân nổi (4. Hạt gần hình trứng (T. Các dạng hạt trong chi Trichosanthes 1.
Tình hình sử dụng trong y học cổ truyền các loài thuộc chi Trichosanthes. Một số loài trong chi Qua lâu (T.) đã được trồng rộng rãi và sử dụng quả làm rau ăn. Nhiều loài được dùng làm thuốc giải nhiệt, lợi tiểu, lợi sữa, giảm đường huyết hoặc chữa bệnh ngoài da như Qua lâu nhân (T. Nước ép từ quả của loài T.
được dùng để chữa bệnh đau đầu., mọc hoang dại) được sử dụng làm thuốc tẩy và xổ giun. Củ của loài Qua lâu trứng (T. ovigera Blume) được coi là vị thuốc có hiệu quả đối với các bệnh kí sinh trùng đường ruột. 7 Tại Bắc Kạn, Hoà Bình rễ củ của Qua lâu được sử dụng để phá thai.
Củ Qua lâu sau khi cạo sạch vỏ, phơi khô, đồng bào tại Sa Pa sử dụng để điều trị một số bệnh liên quan tới thần kinh. Thân và lá Qua lâu được người dân tại Thừa Thiên - Huế, Hoà Bình dùng để điều trị bệnh đau dạ dày hoặc hòa giã nhỏ, trộn lẫn với nước tiểu chữa chứng đau lưng (thân, lá, rễ đem giã nhỏ, trộn với nước tiểu của trẻ em, gói trong lá chuối và dùng bếp than để xông lên chỗ lưng bị đau). Y học cổ truyển Việt Nam sử dụng rễ Qua lâu chữa trị bệnh vàng da ở trẻ em, bệnh người bị đen xạm, chữa tắc sữa, viêm tuyến vú. Rễ Qua lâu kết hợp với một số vị thuốc khác như Sài hồ, Hạ khô thảo, Huyền sâm để chữa viêm màng phổi do lao.
Qua lâu nhân cùng với củ Hẹ, nhân hạt Đào, Xuyên khung, Sinh địa, Đương quy, Hồng hoa, Hà thủ ô, Trinh nữ, Thiên ma, Câu đằng dùng để chữa những cơn đau vùng tim, chữa xơ cứng động mạch vành hoặc sau nhồi máu cơ tim. Rễ Qua lâu kết hợp với Thục địa, Hoài sơn, Kỷ tử, Thạch hộc chữa đái tháo đường. Cùng với Quế chi, Cam thảo, Xuyên tiêu, Thảo quả, Qua lâu được sử dụng để điều trị sốt rét. Kết hợp với Trầm hương, Uất kim, Xích thược, Hẹ, Xuyên quy vĩ, sắc uống cùng Qua lâu dùng chữa đau thắt ngực rất có hiệu quả.