CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về Polysaccharide Polysaccharide là các saccharide bao gồm từ hai đến nhiều gốc đường đơn kết hợp với nhau. Polysaccharide được chia thành 2 phân nhóm: Oligosaccharide và Polysaccharide. Oligosaccharide Oligosaccharide bao gồm không quá 10 gốc monosaccharide kết hợp với nhau bằng liên kết O-glucoside.
Oligosaccharide phổ biến nhất là nhóm disaccharide bao gồm các đường kép điển hình. Ngoài disaccharide còn có trisaccharide, tetrasaccharde… Các disaccharide phổ biến là mantose, lactose và saccatose. Ví dụ: + Mantose (còn gọi là đường mạch nha), được cấu tạo từ 2 phân tử α-D- glucose. Liên kết glucoside được tạo thành giữa một OH- glucoside với OH ở C4 của gốc glucose thứ hai.
Do đó phân tử mantose vẫn còn chứa một nhóm OH-glucoside tự do, nên vẫn giữ được tính khử. + Saccharide (đường mía) được cấu tạo từ α-D-glucose và β-D-glucose. Hai monosaccharide này kết hợp với nhau qua liên kết glucoside được tạo thành giữa hai nhóm OH- glucoside của chúng. Vì vậy sucrose không có tính khử, sucrose hòa tan tốt trong nước.
+ Trisaccharide phổ biến và được biết rõ hơn cả là rafinose. Rafinose được cấu tạo chủ yếu từ 3 monosaccharide là glucose và fructose. + Tetrasaccharide phổ biến được biết đến là stakiose cấu tạo từ 4 gốc monosaccharide, trong đó có 2 gốc α-D-galactose, một gốc α-D-glucose và một gốc β-D-glucose. + Stakiose và ranfinose không có tính khử vì tất cả các nhóm OH- glucoside đều tham gia tạo thành liên kết glucoside.
Polysaccharide Polysaccharide do nhiều gốc monosaccharide kết hợp với nhau có khối lượng phân tử lớn. Các monosaccharide trong phân tử polysaccharide có thể thuộc một hay nhiều loại khác nhau. Trong một số trường hợp các gốc monosaccharide có chứa các nhóm thế glucoside trong phân tử polysaccharide có thể là α-glucoside hoặc β-glucoside. Tên gọi polysaccharide phân theo tên của monosaccharide cấu tạo nên nó nhưng đổi đuôi ‘ose’ thành đuôi ‘an’.
Ví dụ: D-glucan, D-Fructan, D-galactan, D-galactoglucan. Những monosaccharide thường gặp trong phân tử polysaccharide là hexose (glucose, galactose, mantose) hoặc pentose (arabinose, xilose…). So với aldose thì cetose ít tham gia tạo thành phần polysaccharide hơn. Những polysaccharide chứa hơn 5-6 loại monosaccharide khác nhau rất ít gặp.
Tùy theo nguồn gốc tự nhiên, polysaccharide chia thành 3 nhóm lớn: Polysaccharide vi sinh vật, polysaccharide động vật và polysaccharide thực vật. Các Polysaccharide thực vật điển hình [1] Trong tự nhiên polysaccharide thực vật có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống và có nhiều hoạt tính sinh học có giá trị. Alginic acid là hợp phần chính của thành tế bào rong nâu. Alginic acid của các rong khác nhau về thành phần đơn phân, chúng đều chứa D-mannuronic acid và L-guluronic acid.
Các monosaccharide trong alginic acid kết hợp với nhau bằng liên kết 1-4-glucoside và tạo thành mạch thẳng. Thạch (agar) là một sunfate của polysaccharide tích tụ nhiều ở trong loại rong đỏ gồm 2 dạng polysaccharide: agarose và agaropectin. Agarose do D- galactopyranose và 3,6-anhydro L-galactopyranose tạo nên bằng liên kết 1-4 và liên kết 1-3- glucoside. Agaropectin khác với agarose về hàm lượng nhóm sunfate.
Cấu tạo chi tiết của agaropectin chưa được sáng tỏ. Thạch cũng như anginic acid có nhiều 5 ứng dụng trong công nghiệp dệt, công nghiệp thực phẩm và một số ngành sản xuất khác. Inulin là polysaccharide dự trữ của nhiều loại thực vật do D-fructose tạo nên và inulin chứa một polysaccharide có tên là fructan gồm các D-fructo furanose kết hợp với nhau bằng liên kết (2-1)-glucoside và tận cùng bằng một sucarose không khử. Inulin có nhiều nhất trong củ mẫu đơn (12%), rễ cải đắng (10%) cũng như trong cây họ nhà hòa thảo.
Inulin được người và động vật đồng hóa dễ dàng, dễ hòa tan trong nước nóng và khi để lạnh lắng xuống thành kết tủa. Inulin có khối lượng phân tử tương đối thấp (5000-6000) Da. Tinh bột là polysaccharide dự trữ chủ yếu trong thế giới thực vật. Là polysaccharide có cấu trúc hóa học phức tạp.
Sự phức tạp của cấu trúc phân tử các polysaccharide là nguyên nhân của tính không hòa tan của chúng. Tinh bột có đặc tính hòa tan dạng keo. Các dung dịch keo của tinh bột không bao gồm các hạt riêng rẽ mà là các micelle, bao gồm một lượng lớn phân tử. Tinh bột có nhiều trong quả, hạt (trong hạt thóc, ngô, lúa mì tinh bột chiếm 70%), củ và trái cây.
Tinh bột cũng có một ít trong lá (1-2%). Tinh bột gồm 2 cấu tử là amylose và amylopectin đều do các đơn vị glucose tạo nên. Trong amylose các gốc glucose kết hợp với nhau bằng liên kết α-1-4-glucoside tạo thành mạch thẳng. Amylopectin có cấu tạo nhánh, ở điểm phân nhánh các gốc glucose kết hợp với nhau bằng liên kết α-1-4-glucoside và liên kết phụ α-1-6-glucoside.
Amylose hòa tan dễ dàng trong nước ấm và trong dung dịch có độ nhớt không cao. Amylopectin chỉ hòa tan trong nước nóng khi có áp suất và trong dung dịch có độ nhớt rất cao. Amylose có phân tử lượng 10.000 Da, còn phân tử lượng của amylopectin lại xê dịch 50. Hóa tính đặc trưng nhất của tinh bột là phản ứng màu với iod.
Tinh bột tương tác với iod tạo màu xanh và đôi khi thấy màu đỏ [1]. Cellulose là polysaccharide có cấu trúc phổ biến nhất của thực vật và cũng là chất hữu cơ phổ biến nhất trên hành tinh của chúng ta. Hằng năm lượng 6 cellulose do cây trồng tổng hợp nên là 1011 tấn. Cellulose là thành phần chính của màng tế bào thực vật.
Cellulose chiếm 50% trong gỗ và 90% trong bông. Cellulose là glucan không phân nhánh, trong đó các gốc glucose kết hợp với nhau qua liên kết β-1-4-glucoside. Số gốc glucose trong cellulose xê dịch 50. Cellulose và dẫn xuất của nó có giá trị to lớn trong nhiều ngành (sợi, giấy sợi nhân tạo, chất dẻo, chất nổ.
Pectin là những polysaccharide có phân tử lớn mà phần tử chính của phân tử cấu tạo bởi polygalacturonic acid, do đó được xếp vào nhóm polyuronic. Pectin thường gặp trong các bộ phận của cây và tảo. Đặc biệt cùi trắng của một số cây họ cam quýt (rutaceate) như bưởi, cam, chanh chứa hàm lượng pectin rất cao, có thể lên đến 30%. Pectin được chia làm 2 loại: protopectin là dạng không hòa tan nằm trong thành tế bào và các lớp gian bào và pectin hòa tan có trong dịch tế bào.
Gôm và các chất nhầy: Gôm là những polysaccharide được tiết ra ở dạng dịch keo khô ở những vết nứt, vết chặt, lỗ đục sâu, như gôm từ cây Acacia verele mọc ở ven vùng sa mạc Ai cập. Gôm có nguồn gốc bệnh lý và sự tiết ra gôm là một phản ứng với điều kiện bất lợi [1]. Chất nhầy phần lớn là polysaccharide thuộc nhóm galactomannan, thường có cấu trúc mạch thẳng chủ yếu tạo bởi gốc D-manopyranose, kết hợp với nhau bằng mối liên kết β-1-4 nhưng cũng có mạch nhánh tạo bởi các D- galactopyranose (α-1-6). Chất nhầy là thành phần cấu tạo của tế bào bình thường.
Do cấu trúc của polysaccharide rất phức tạp cho nên việc nghiên cứu cấu trúc, tính chất của từng loại polysaccharide còn có nhiều khó khăn và còn rất hạn chế. Vai trò sinh học và tác dụng của polysaccharide thực vật 1.Vai trò sinh học và ý nghĩa kinh tế Vai trò sinh học của polysaccharide đối với cơ thể thực vật cũng tương tự như các polysaccharide trong cơ thể sống khác: 7 Polysaccharide giữ vai trò là chất dự trữ ở thực vật, như tinh bột trong tế bào chất, trong không bào và các cơ quan dự trữ, có nhiệm vụ giữ thế cân bằng áp suất thẩm thấu và quá trình trao đổi chất của tế bào sống. Chúng là thành phần cấu trúc chủ yếu của thành tế bào giữ vai trò bảo vệ: cellulose, hemicellulose, pectin… Polysaccharide ngoại bào giữ vai trò quan trọng trong các chức năng bảo vệ của thực vật như: chất nhầy ở các màng tế bào mặt ngoài rễ, chất dịch tiết ra khi khối mô bị tổn thương. Một số polysaccharide thực vật có tác dụng kìm hãm quá trình lắng tụ hồng cầu, một số glucoprotein có thành phần giống glucoprotein của huyết thanh tham gia vào các “phản ứng miễn dịch” của thực vật.
Một số lipopolysaccharide có thành phần giống lipopolysaccharide của vi khuẩn gram (-). Các chất trên cũng giữ vai trò trong phản ứng bảo vệ của thực vật. Do đó chứa 1 lượng lớn nhóm hydroxide (-OH) với đôi điện tử của nguyên tử oxy nên dọc theo phân tử polysaccharide có mật độ điện tử đậm đặc, điều đó làm dễ dàng tạo mối liên kết hydro giữa các phân tử làm bền cấu trúc bậc 2 của polysaccharide, đồng thời chúng dễ dàng liên kết với các phân tử biopolyme khác của tế bào. Về kinh tế polysaccharide được được sử dụng trong các ngành công nghiệp như: Dược liệu, thực phẩm.Trong ngành dược, tinh bột được sử dụng làm tá dược viên nén.
Để dễ tiêu hóa, người ta có thể chế loại tinh bột đã được rang lên, tinh bột đã được thủy phân 1 phần. Trong công nghệ thực phẩm, nhà máy thực phẩm Linh Xuân (thành phố Hồ Chí Minh) đã sản xuất maltodextrin dùng để cho vào sữa bột Dielac. Tinh bột còn được là nguyên liệu để sản xuất glucose, cồn ethylic, monosodium glutamate, bánh kẹo…[58] + Pectin là polyuronic mạch thẳng chủ yếu là polygalacturonic acid được dùng trong công nghiệp sản xuất bánh kẹo. Trong dược phẩm, pectin được dùng làm thuốc cầm máu đường ruột, ngoài ra còn làm tác nhân nhũ hóa tốt khi kết hợp cùng với gôm Arabic.
8 + Gôm Arabic là chất tiết ra và để khô từ thân và cành của cây Acacia verek Guill va Perr. Gôm Arabic được sử dụng trong kĩ nghệ thực phẩm keo dán. Trong dược phẩm được dùng để bào chế các nhũ dịch và hỗn dịch. Bào chế các viên nén làm chất dính và chất làm rã (do có khả năng nở ra trong nước).
Bào chế các thuốc dạng viên, phiến, potio, một số kem bôi da. Gôm Arabic còn có tác dụng làm dịu tại chỗ nơi bị viêm như viêm họng, viêm dạ dày [59]. + Ngoài ra nhóm polysaccharide nhầy với cấu trúc phức tạp và đa dạng có vai trò quan trọng trong y học, dược học, công nghiệp thực phẩm. Tác dụng chữa bệnh của một số polysaccharide thực vật Nhiều vị thuốc chứa chất nhầy được dùng phổ biến trong y học cổ truyền có tác dụng tạo máu, chống viêm, chữa lành vết thương [4]… Trong những năm gần đây polysaccharide là những nhóm hợp chất rất được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm do các tác dụng quan trọng của chúng về tăng cường miễn dịch, kháng bổ thể, kháng virus, chống loét, chống đông máu, phân hủy fibrin.
Một số công trình nghiên cứu về tính chất hóa học và tác dụng chữa bệnh của polysaccharide đã được công bố trên tạp chí khoa học[31], [42]. Năm 1992, Puhlann và cộng sự công bố hai loại polysaccharide pectin chứa ion kim loại chiết xuất từ Achyrocline satureioides có hoạt tính miễn dịch và kháng bổ thể.