Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. HUYỆT VÀ PHƯƠNG PHÁP CHÂM – ĐIỆN CHÂM 1. Quan niệm của Y học cổ truyền về huyệt 1. Khái niệm về huyệt Huyệt là nơi tập trung thần khí, nơi phản ánh chức năng của tạng phủ kinh lạc.
Huyệt cũng là cửa ngõ tà khí lục dâm xâm nhập vào cơ thể, vì vậy nó phản ánh tình trạng bệnh lý của kinh mạch. Từ huyệt vị có thể phát hiện ra trạng thái bệnh lý của tạng phủ để chẩn đoán bệnh, cũng như từ huyệt vị có thể điều khí để chữa bệnh. Huyệt được phân bố khắp mặt ngoài cơ thể, nó có liên quan đến chức năng của nhiều cơ quan trong cơ thể [6], [7], [8], [9]. Phân loại huyệt Trên cơ thể có ba loại huyệt chính: Huyệt nằm trên đường kinh, huyệt nằm ngoài đường kinh và A thị huyệt.
Trên 12 kinh chính có những huyệt chủ yếu là: 12 huyệt nguyên, 13 huyệt lạc, 12 huyệt bối du, 12 huyệt mộ, 66 ngũ du huyệt, 12 huyệt khích, 8 huyệt hội, 8 giao hội huyệt. * Huyệt Nguyên Đại diện cho đường kinh là nơi khí huyết tập trung nhiều nhất so với vùng huyệt khác. Các huyệt này nằm ở ngay hoặc gần cổ tay, cổ chân, mỗi kinh chính có một huyệt Nguyên [10], [11]. Huyệt Nguyên có quan hệ mật thiết với Tam tiêu.
Tác động vào đó có thể thúc đẩy chức năng của các cơ quan, điều hoà hoạt động nội tạng. Vì thế đối với bệnh của ngũ tạng lục phủ đều lấy huyệt Nguyên của chúng để điều trị. Huyệt Nguyên có tác dụng chữa các chứng hư hay thực của tạng phủ thuộc kinh mạch của huyệt. Ngoài ra qua huyệt Nguyên có thể chẩn đoán được bệnh của tạng phủ và kinh lạc [12],[13].
4 * Huyệt Lạc Là huyệt liên lạc giữa một kinh âm với một kinh dương biểu lý. Huyệt Lạc dùng để trị bệnh ngay tại đường kinh có huyệt đó, vừa có tác dụng chữa bệnh đường kinh có quan hệ biểu lý. Ngoài ra có thể dùng phối hợp với huyệt Nguyên của bản kinh để tăng tác dụng chữa bệnh [12],[13]. * Huyệt Du Tất cả các huyệt này đều nằm trên kinh túc Thái dương Bàng quang.
Các huyệt này đều mang tên tạng phủ tương ứng, trừ huyệt Du của Tâm bào được gọi là Quyết âm du. Châm vào huyệt Du có tác dụng rất lớn đến những hoạt động của tạng phủ tương ứng. Ngoài ra có thể dựa vào phản ứng không bình thường của huyệt Du để chẩn đoán bệnh ở tạng phủ [12],[13]. * Huyệt Mộ Là nơi khí của tạng phủ tụ lại trên vùng bụng ngực.
Khi tạng phủ có bệnh, tại vùng huyệt Mộ tương ứng thường xuất hiện những phản ứng không bình thường. Có thể dùng huyệt mộ để điều chỉnh hoạt động quá hưng phấn hoặc quá ức chế của tạng phủ. Qua những phản ứng bất thường của huyệt Mộ có thể chẩn đoán được bệnh ở tạng phủ tương ứng [12],[13]. * Huyệt Khích Là nơi kinh khí tụ lại, nằm sâu trong khe gân xương.
Mỗi kinh chính có một huyệt Khích, ngoài ra các mạch Âm duy, Dương duy, Âm kiểu, Dương kiểu, cũng có một huyệt Khích. Tổng cộng có mười sáu huyệt Khích. Thường dùng huyệt Khích để điều trị những chứng bệnh cấp của các kinh hoặc các tạng phủ của kinh đó. Huyệt Khích cũng có thể dùng để chẩn đoán những chứng bệnh cấp tính của tạng phủ mà đường kinh mang tên [12].
5 * Huyệt Ngũ du Mỗi kinh chính có năm huyệt từ đầu mút các chi tới khuỷu tay và đầu gối, đại diện cho sự vận hành kinh khí của từng kinh chính. Huyệt Ngũ du được phân bố theo thứ tự Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp [12],[13]. Kinh khí vận hành trong các kinh chính ví như dòng nước chảy, mạnh, yếu, lớn, nhỏ, nông, sâu ở từng chỗ khác nhau. + Huyệt Tỉnh: Nơi mạch khí khởi giống như nước đầu nguồn bắt đầu chảy ra, mạch khí nông, nhỏ.
+ Huyệt Huỳnh: Mạch khí chảy qua giống như nước đã thành dòng, mạch khí hơi lớn. + Huyệt Du: Mạch khí dồn lại giống như nước chảy liên tục, mạch khí to và sâu hơn. + Huyệt Kinh: Mạch khí chảy giống như dòng nước xiết, mạch khí sâu. + Huyệt Hợp: Mạch khí tụ hợp lại thành dòng vừa to vừa sâu, như các dòng suối hợp thành sông, là chỗ ra vào của khí.
Huyệt Ngũ du dùng để trị bệnh thuộc đường kinh của huyệt với hiệu quả cao. Mỗi loại huyệt Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp có tác dụng chữa bệnh riêng. Huyệt Ngũ du được phân loại theo ngũ hành, theo quy luật tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ của ngũ hành dùng đặc tính của mỗi huyệt đó để chọn huyệt chữa bệnh. * Huyệt ngoài kinh Là những huyệt không thuộc vào 12 kinh chính và hai mạch Nhâm, Đốc.
Huyệt thường có vị trí ở ngoài các đường kinh, nhưng cũng có một số huyệt nằm trên đường tuần hành của kinh mạch chính song không phải là huyệt của kinh mạch đó. Huyệt ngoài kinh chưa được nói tới trong cuốn Nội kinh, đó là những huyệt do các nhà châm cứu đời sau quan sát và phát hiện dần. Trên lâm sàng chúng có hiệu quả điều trị rõ ràng và có vị trí cố định. Huyệt A thị Sách Nội kinh có viết "lấy chỗ đau làm huyệt", những huyệt đó sau này được gọi là huyệt A thị.
Đó là những huyệt không có vị trí cố định, cũng không tồn tại mãi mãi, nó chỉ xuất hiện ở những chỗ thấy đau, nó không phải là những huyệt của các kinh mạch chính và huyệt ngoài kinh. Đặc tính của huyệt A thị là châm vào đó có thể chữa chứng đau nhức rất tốt vì có tác dụng lưu thông khí huyết. Một số đặc điểm của huyệt theo Y học hiện đại Y học hiện đại (YHHĐ) dựa trên bằng chứng của các nghiên cứu lâm sàng, thực nghiệm, qua các phân tích cụ thể chính xác bằng các phương tiện ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến đã chỉ ra vị trí giải phẫu của các huyệt trên đường kinh, đã đề cập đến cấu trúc giải phẫu và điện sinh học của huyệt. Đặc điểm hình thái của huyệt Về hình dáng và diện tích da vùng huyệt: Các nhà khoa học khi nghiên cứu về huyệt đã nhận định rằng huyệt vị trên cơ thể không phải chỉ là một điểm mà mỗi huyệt có vùng hình chiếu tương ứng trên mặt da.
Huyệt đa số có hình tròn và chiếm vị trí nhất định trên mặt da, kích thước các huyệt dao động trong khoảng từ 4 đến 18 mm 2, là những vùng da nhạy cảm hơn và có chức năng đặc hiệu hơn so với các cấu trúc xung quanh [14], [15], [16]. Đỗ Công Huỳnh, Cao Xuân Đường, Trần Lê, Nguyễn Duy Lượng, Vũ Văn Lạp đã xác định vị trí và diện tích huyệt bằng cách dùng kim châm để xác định trên mặt da, đánh dấu các điểm không đau và ít đau ở da. Nhờ cách này, các tác giả đã xác định được hình dáng, diện tích khác nhau của các huyệt vị và nhận thấy một số huyệt có hình bầu dục, bề rộng khoảng 1,5 mm, bề dài gấp 1,5 lần bề rộng và có khi gấp hai đến ba lần, như huyệt Túc tam lý; ở ngoài diện tích này mũi kim châm vào bao giờ cũng gây đau. Vị trí và diện tích huyệt xác định bằng phương pháp này hoàn toàn phù hợp với kết quả thu được bằng các loại máy dò huyệt [17].
7 Như vậy, các huyệt có hình thái khác nhau và chiếm một diện tích trên bề mặt da, là những vùng da nhạy cảm hơn và có chức năng đặc hiệu hơn so với các cấu trúc xung quanh. Đặc điểm sinh học của huyệt * Về đặc điểm nhiệt độ da tại huyệt Nhiệt độ tại huyệt trên da được xác định bằng nhiệt kế điện Thermo- Finer type N-1 do Nhật Bản sản xuất. Nhiệt độ da được tính bằng oC. Nghiên cứu của Vũ Văn Lạp về đặc điểm huyệt Túc tam lý cho thấy nhiệt độ da tại huyệt Túc tam lý là 31,18°C, cao hơn vùng xung quanh huyệt.
Sau 30 phút điện châm, nhiệt độ da tại huyệt Túc tam lý tăng cao hơn so với trước điện châm, trong khi đó nhiệt độ da ngoài huyệt không có sự khác biệt ở hai thời điểm trước và sau điện châm [16]. Nguyễn Thị Vân Anh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm nhiệt độ tại 12 cặp huyệt Nguyên ở người trưởng thành thuộc các lứa tuổi 20-25, 50-67 cho thấy tại 12 cặp huyệt Nguyên có nhiệt độ da cao hơn hẳn so với vùng xung quanh, không có sự khác biệt về nhiệt độ của 12 cặp huyệt Nguyên giữa bên phải và bên trái cơ thể, nhưng có sự khác nhau giữa nhiệt độ của 12 cặp huyệt Nguyên ở các nhóm lứa tuổi, ở nhóm lứa tuổi 20-25 có nhiệt độ cao hơn so với ở nhóm lứa tuổi 50-67 [18]. Như vậy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy có sự khác nhau về nhiệt độ giữa huyệt và vùng ngoài huyệt, giữa các huyệt trên cơ thể người khỏe mạnh bình thường. Đối với cơ thể đang bị bệnh thì có sự thay đổi nhiệt độ tại các huyệt hoặc các huyệt Nguyên liên quan đến tạng phủ bị bệnh.
Thông qua đo nhiệt độ của kinh lạc, huyệt vị có thể xác định sự mất cân bằng âm dương của kinh lạc, từ đó có thể phân tích nguyên nhân gây bệnh, đưa ra phương pháp điều trị. 8 * Về điện trở da và cường độ dòng điện qua da vùng huyệt Các nhà khoa học cho rằng đặc điểm điện sinh học của huyệt bao gồm điện trở da và cường độ dòng điện qua da vùng huyệt là hai thông số để phát hiện đặc điểm sinh học sớm nhất của huyệt và là phương tiện để có thể tìm hiểu cơ chế tác dụng của châm cứu. Vấn đề này đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau (Dunaevskaia, 1950; Nagieva, 1958; Kassil, 1960; Ivanov, 1974). Người ta nhận thấy điện trở và cường độ dòng điện qua da tại huyệt so với vùng quanh huyệt có sự khác biệt rõ.
Da tại huyệt có điện trở thấp và cường độ dòng điện cao hơn da vùng xung quanh huyệt. Nối các huyệt của cùng một kinh lại với nhau ta có một đường dẫn điện tốt. Năm 1951, Yoshio Nakatani [19] đã đưa ra học thuyết Ryodo-Racu: Những điểm mà ở đó có cường độ dòng điện cao được gọi là các huyệt Ryodo. Trong nhiều trường hợp, các huyệt Ryodo này có cùng vị trí với các huyệt châm cứu.
Các huyệt Ryodo xuất hiện do tính chịu kích thích của các thần kinh giao cảm được phân bố trên da tăng lên và các tế bào bị phân cực.