Thực trạng nhiễm virus viêm gan B và chứng trạng YHCT sinh viên YDCT

Nghiên cứu thực trạng nhiễm virus viêm gan B và mối liên quan với các chứng trạng y học cổ truyền ở sinh viên năm nhất Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam.

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thực trạng nhiễm virus viêm gan B ở sinh viên

Nhiễm virus viêm gan B (HBV) là một trong những thách thức y tế lớn trên toàn cầu và tại Việt Nam. Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường máu, quan hệ tình dục không an toàn và truyền từ mẹ sang con. Nhóm đối tượng sinh viên đại học, đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam, bước vào môi trường học tập mới với nhiều thay đổi về sinh hoạt. Việc đánh giá tỷ lệ lưu hành HBsAg giúp xác định mức độ phơi nhiễm thực tế của sinh viên. Nghiên cứu thực trạng cung cấp dữ liệu cơ sở cho công tác y tế dự phòng học đường. Ngoài ra, việc kết hợp khảo sát y học hiện đại với y học cổ truyền mở ra góc nhìn toàn diện hơn. Y học cổ truyền xếp bệnh cảnh này vào các chứng hoàng đản, hiếp thống hoặc hư lao. Các biểu hiện khởi phát thường âm thầm, ít triệu chứng rầm rộ nhưng tiềm ẩn nguy cơ tiến triển mạn tính. Sinh viên khối ngành sức khỏe cần nắm vững kiến thức phòng bệnh để bảo vệ bản thân và chuẩn bị tốt cho hoạt động thực hành lâm sàng tại bệnh viện. Tỷ lệ nhiễm HBV trong học đường cần được giám sát chặt chẽ thông qua các đợt khám sức khỏe định kỳ.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học của virus viêm gan B tại Việt Nam

Việt Nam thuộc vùng dịch tễ lưu hành cao của virus viêm gan B. Tỷ lệ người mang kháng nguyên HBsAg trong cộng đồng dao động từ 10% đến 20%. HBV có khả năng tồn tại bền vững ngoài môi trường và lây nhiễm cao gấp nhiều lần so với HIV. Con đường truyền bệnh đa dạng tạo áp lực lớn cho hệ thống y tế công cộng. Đa số ca nhiễm ở giai đoạn đầu không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Người mang virus mạn tính có nguy cơ cao phát triển thành xơ gan hoặc ung thư biểu mô tế bào gan. Việc tầm soát sớm là biện pháp then chốt để hạn chế biến chứng nguy hiểm.

1.2. Khái niệm bệnh viêm gan B theo góc nhìn y học cổ truyền

Y học cổ truyền không có danh từ riêng cho virus viêm gan B nhưng mô tả bệnh lý này qua chứng hoàng đản và hiếp thống. Căn nguyên xuất phát từ cảm thụ thấp nhiệt tà khí, kết hợp với chế độ ăn uống không điều độ hoặc lao lực quá độ làm tổn thương Tỳ Vị. Khi Tỳ Vị hư suy, thấp nhiệt uẩn kết nội sinh rồi hun đốt Can Đởm. Đởm dịch không vận hành bình thường mà tràn ra ngoài cơ phu, gây nên sắc da vàng, mắt vàng và nước tiểu sẫm màu. Bệnh cảnh được phân chia rõ theo hai thể cấp tính và mạn tính.

II. Phân tích thực trạng nhiễm virus viêm gan B và chứng trạng

Khảo sát tại Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam ghi nhận thực trạng đáng chú ý về tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B ở sinh viên năm thứ nhất. Nhiều sinh viên mang virus nhưng chưa từng làm xét nghiệm kiểm tra trước đó. Tình trạng này phản ánh khoảng trống lớn trong ý thức tự chủ động tầm soát bệnh lý truyền nhiễm. Đa số trường hợp HBsAg dương tính có men gan AST và ALT ở mức bình thường hoặc chỉ tăng nhẹ dưới hai lần. Do tổn thương tế bào gan âm ỉ, người bệnh thường bỏ qua các dấu hiệu cảnh báo sớm. Về mặt y học cổ truyền, các triệu chứng xuất hiện phổ biến gồm mệt mỏi, đầy trướng bụng, miệng đắng, ăn uống kém và đau tức hạ sườn phải. Thể bệnh mạn tính thường gặp nhất là Can nhiệt Tỳ thấp hoặc Can khí uất kết. Sự tương quan giữa chỉ số cận lâm sàng và triệu chứng đông y cho thấy cơ chế bệnh sinh phức tạp. Khi thấp nhiệt nung nấu lâu ngày, Can mất khả năng sơ tiết, Tỳ mất chức năng kiện vận. Nhận diện sớm các chứng trạng này hỗ trợ việc phân loại thể bệnh chính xác.

2.1. Thực trạng nhận thức và tỷ lệ tiêm phòng ở sinh viên

Kết quả điều tra cho thấy nhận thức của sinh viên về bệnh viêm gan B vẫn còn những hạn chế nhất định. Dù phần lớn sinh viên biết đến vắc xin phòng bệnh, tỷ lệ sinh viên đã hoàn thành phác đồ tiêm chủng thực tế chỉ đạt dưới 40%. Hơn 60% sinh viên chưa từng tiêm phòng hoặc không nhớ lịch sử tiêm của bản thân. Tương tự, tỷ lệ sinh viên chủ động đi xét nghiệm kiểm tra kháng nguyên HBsAg còn rất thấp. Nguyên nhân chủ yếu do tâm lý chủ quan khi cơ thể không có triệu chứng bất thường. Điều này tạo ra nguy cơ lây nhiễm chéo trong sinh hoạt tập thể.

2.2. Biểu hiện các chứng trạng y học cổ truyền điển hình

Ở những sinh viên nhiễm virus viêm gan B, các biểu hiện y học cổ truyền xuất hiện với tần suất khác nhau tùy thuộc vào mức độ uẩn kết của tà khí. Thể Can nhiệt Tỳ thấp chiếm ưu thế với các triệu chứng như miệng khô đắng, đau tức vùng hạ sườn, ăn uống khó tiêu và nước tiểu vàng sẫm. Một số trường hợp ghi nhận rêu lưỡi vàng dính, chất lưỡi đỏ và mạch huyền sác. Những dấu hiệu này phản ánh sự suy giảm công năng sơ tiết của Can và rối loạn vận hóa của Tỳ Vị. Việc kết hợp quan sát mạch, lưỡi giúp củng cố chẩn đoán lâm sàng.

III. Phương pháp dự phòng nhiễm virus viêm gan B cho sinh viên

Để giải quyết thực trạng nhiễm virus viêm gan B, Học viện cần triển khai đồng bộ các giải pháp y tế dự phòng và can thiệp lối sống. Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe đóng vai trò tiên quyết nhằm nâng cao hiểu biết cho tân sinh viên. Nhà trường cần tổ chức khám sức khỏe đầu khóa bài bản, lồng ghép xét nghiệm sàng lọc HBsAg và đánh giá men gan. Đối với sinh viên chưa nhiễm và chưa có kháng thể, việc tiêm phòng vắc xin đầy đủ ba mũi là biện pháp bảo vệ hiệu quả nhất. Song song với y học hiện đại, y học cổ truyền cung cấp nhiều phương pháp dưỡng sinh giá trị. Chế độ ăn uống thanh đạm, hạn chế đồ cay nóng, bia rượu giúp bảo vệ chức năng Can Tỳ. Luyện tập dưỡng sinh, thái cực quyền kết hợp điều hòa cảm xúc giúp giải tỏa can khí uất kết. Đối với trường hợp đã nhiễm virus, việc theo dõi định kỳ bằng đông tây y kết hợp giúp kiểm soát diễn tiến bệnh, hạn chế biến chứng nguy hiểm.

3.1. Phác đồ tiêm chủng vắc xin và tầm soát định kỳ

Tiêm vắc xin viêm gan B là biện pháp phòng bệnh chủ động, an toàn và đạt hiệu quả tạo miễn dịch trên 95%. Sinh viên cần thực hiện xét nghiệm HBsAg và Anti-HBs trước khi tiêm chủng. Nếu chưa có kháng thể, sinh viên cần hoàn thành đủ liệu trình ba mũi tiêm theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Đối với những sinh viên đã nhiễm HBV, việc tái khám định kỳ mỗi 3 đến 6 tháng là bắt buộc. Quy trình theo dõi bao gồm xét nghiệm men gan, định lượng HBV-DNA và siêu âm ổ bụng nhằm đánh giá mức độ hoạt động của virus.

3.2. Ứng dụng dưỡng sinh y học cổ truyền nâng cao sức đề kháng

Y học cổ truyền chú trọng nguyên tắc trị vị bệnh và phù chính khu tà nhằm nâng cao chính khí cơ thể. Sinh viên cần duy trì thói quen sinh hoạt khoa học, ngủ trước 23 giờ để hỗ trợ công năng tàng huyết của Can. Chế độ ăn nên bổ sung các vị thanh nhiệt lợi thấp như nhân trần, atisô, ý dĩ và hoa cúc. Việc duy trì tinh thần lạc quan giúp can khí thư thái, tránh uất trệ sinh nhiệt. Các bài tập khí công nhẹ nhàng hỗ trợ khí huyết lưu thông, tăng cường chức năng miễn dịch tự nhiên.

IV. Kết luận về thực trạng nhiễm virus viêm gan B học đường

Nghiên cứu về thực trạng nhiễm virus viêm gan B ở sinh viên năm thứ nhất Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam mang lại nhiều giá trị thực tiễn. Kết quả phản ánh bức tranh toàn diện về tỷ lệ mang virus, mức độ nhận thức và các biểu hiện chứng trạng đông y liên quan. Việc sinh viên khối ngành y dược nắm vững kiến thức phòng bệnh không chỉ bảo vệ sức khỏe bản thân mà còn nâng cao trách nhiệm cộng đồng. Sự kết hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền tạo nên phương pháp tiếp cận toàn diện trong chẩn đoán, phòng ngừa và chăm sóc lá gan. Các đơn vị đào tạo cần tiếp tục hoàn thiện mạng lưới y tế học đường, đẩy mạnh sàng lọc và hỗ trợ tiêm chủng vắc xin cho sinh viên. Mô hình quản lý sức khỏe kết hợp hai nền y học mở ra hướng đi bền vững trong kiểm soát bệnh viêm gan virus. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng môi trường học đường khỏe mạnh và an toàn.

4.1. Ý nghĩa của nghiên cứu trong công tác y tế học đường

Dữ liệu từ nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn giúp ban lãnh đạo học viện xây dựng kế hoạch y tế phù hợp. Việc phát hiện sớm các trường hợp nhiễm virus giúp thiết lập hồ sơ theo dõi sức khỏe liên tục trong suốt quá trình học tập. Nhà trường có thể chủ động phối hợp với các cơ sở y tế triển khai các chương trình tiêm chủng mở rộng tại chỗ. Nâng cao nhận thức phòng ngừa viêm gan B cho sinh viên y khoa là khoản đầu tư chiến lược cho đội ngũ cán bộ y tế tương lai.

4.2. Hướng phát triển kết hợp đông tây y trong quản lý bệnh

Kết hợp đông tây y là xu hướng tất yếu trong việc nâng cao hiệu quả quản lý bệnh viêm gan B mạn tính. Y học hiện đại đảm nhận vai trò định lượng tải lượng virus và kiểm soát tổn thương tế bào gan. Trong khi đó, các bài thuốc y học cổ truyền cùng phương pháp dưỡng sinh giúp điều hòa công năng tạng phủ, thanh trừ thấp nhiệt và bảo vệ nhu mô gan. Sự phối hợp hài hòa giữa hai nền y học đem lại giải pháp chăm sóc sức khỏe toàn diện và lâu dài cho người bệnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

05/06/2026
Thực trạng nhiễm virus viêm gan b và liên quan một số chứng trạng y học cổ truyền của sinh viên năm thứ nhất học viện y dược học cổ truyền việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm virus viêm gan B là một vấn đề sức khỏe và là một trong những nguyên nhân gây bệnh và tử vong phổ biến trên thế giới. Virus viêm gan B (HBV - virus hepatitis B) gây nên các rối loạn chức năng gan, làm tổn thƣơng tế bào gan và gây bệnh viêm gan virus B. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới có khoảng 2 tỷ ngƣời bị nhiễm HBV, trong đó 350 triệu ngƣời là mang HBV mạn tính. Ở những ngƣời nhiễm HBV mãn tính, nguy cơ bị ung thƣ gan cao gấp 200 lần những ngƣời không bị nhiễm, 15- 40% ngƣời trong số đó có biến chứng xơ gan và ung thƣ gan nguyên phát [49], [58].

Hàng năm, ƣớc tính trên thế giới có khoảng 1 triệu ngƣời mang HBV mạn tính chết vì ung thƣ gan nguyên phát và xơ gan. Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B thay đổi theo từng khu vực địa lý, dân cƣ, tập quán sinh hoạt, ý thức ngƣời dân và điều kiện kinh tế. Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đều cho thấy nhiễm virus viêm gan B thƣờng có liên quan đến các yếu tố nhƣ kiến thức, hiểu biết, thái độ và nhận thức cũng nhƣ hành vi phòng chống chƣa hiệu quả tại cộng đồng. Việt Nam nằm trong khu vực có nguy cơ cao về nhiễm HBV.

Chính vì thế, để kiểm soát đƣợc tình trạng nhiễm HBV thì việc phát hiện sớm để điều trị ngay từ đầu rất quan trọng. Hiện nay, để chẩn đoán chính xác bệnh viêm gan B ngoài dựa vào các triệu chứng lâm sàng, ngƣời ta dựa chủ yếu vào các dấu ấn miễn dịch đƣợc phát hiện trong huyết thanh của bệnh nhân (HBsAg, Anti HBs, HBcAg, Anti HBc, HBeAg, Anti HBe, HBV- DNA) vì ở những giai đoạn đầu viêm gan B không có hoặc không biểu hiện rõ ràng các triệu chứng. Tuy nhiên trên thực tế chỉ 5 dấu ấn đƣợc đƣa vào chẩn đoán. Riêng HBsAg dƣơng tính đủ để chứng minh sự có mặt của HBV, Anti HBc total chứng tỏ cơ thể đã hoặc đang nhiễm HBV, HBV- DNA đánh giá sự tồn tại và nhân lên của virus.

2 Hiện nay, Viêm gan B là một nguy cơ nghề nghiệp quan trọng đối với nhân viên y tế. Theo WHO, trong 35 triệu nhân viên y tế trên toàn cầu, có 2 triệu ngƣời tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm, mỗi năm có 40% bị nhiễm HBV. Các yếu tố gây tổn thƣơng da 28%, mảnh thủy tinh 17%, mũi kim khâu 15%, kim bƣớm 14%, mũi khoan 15%, qua thông tĩnh mạch 5%, yếu tố khác 7% [4]. Theo thống kê cho thấy chỉ 60% nhân viên y tế có nhận thức, thái độ thực hành về các biện pháp chuyên môn phòng tránh nhiễm HBV đúng qui định [30].

Tần suất HBsAg(+) thay đổi rộng khắp trên thế giới. Ba phần tƣ dân số thế giới, phần lớn là khu vực Châu Á sống trong vùng dịch tễ lƣu hành cao với tần suất HBsAg(+) ≥ 8%. Dân số còn lại sống trong vùng dịch tễ trung bình có tần suất HBsAg(+) dao động từ 2 - 7% và vùng dịch tễ thấp có tần suất < 2% [43]. Đông Nam Á là vùng dịch tễ lƣu hành cao của virus viêm gan B với tỷ lệ nhiễm từ 6,5 - 16,5% [60].

Ở Việt Nam, đã có những nghiên cứu tình hình nhiễm HBV, nhƣng chủ yếu là nghiên cứu về nhân viên ở bệnh viện đa khoa (điều dƣỡng, hộ sinh,cấp cứu, hồi sức…), còn nghiên cứu về tình hình nhiễm HBV ở sinh viên ngành Y còn rất ít, đặc biệt là đối tƣợng sinh viên khi mới nhập học tại Học viện Y Dƣợc học cổ truyền, nhóm đối tƣợng có nguy cơ cao do thƣờng xuyên phải tiếp xúc với ngƣời bệnh và các dịch cơ thể của họ trong quá trình thực hành lâm sàng. Nếu không hiểu rõ về tình trạng sức khỏe cũng nhƣ kiến thức, thực hành phòng chống viêm gan B không tốt, không những ảnh hƣởng trực tiếp đến bản thân sinh viên mà còn ảnh hƣởng đến cả cộng đồng. Mặt khác, chính những nhân viên y tế tƣơng lai này là nguồn cung cấp kiến thức đúng đắn cho cộng đồng, giúp mọi ngƣời hiểu rõ về bệnh viêm gan B và cách phòng tránh. Vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài “Thực trạng nhiễm virus viêm gan B và liên quan một số chứng trạng y học cổ truyền của sinh viên năm thứ nhất Học viện Y Dƣợc học cổ truyền Việt Nam‟‟ với mục tiêu nghiên cứu sau: 1.

Xác định tỷ lệ nhiễm và kiến thức, thực hành về bệnh viêm gan B ở sinh viên năm thứ nhất (2018-2019) Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam. Khảo sát một số chỉ số cận lâm sàng với mối liên quan các chứng trạng y học cổ truyền ở đối tượng nhiễm HBV. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. VIRUS VIÊM GAN B 1.

Vài nét lịch sử bệnh viêm gan virus B Viêm gan virus là một bệnh cũ đã đƣợc mô tả từ rất sớm. Năm 1947, Mac Callum và Bauer phân biệt viêm gan A là “Viêm gan truyền nhiễm” và viêm gan B là “Viêm gan huyết thanh” do hai bệnh khác nhau về phƣơng diện dịch tễ học. Ví dụ loại viêm gan A đƣợc xem nhƣ là lây truyền chủ yếu qua đƣờng phân-miệng, loại viêm gan B đƣợc coi nhƣ là lây truyền qua đƣờng máu. Năm 1964, Blumberg đã phát hiện ra một protein chƣa từng đƣợc biết đến trong máu của một thổ dân Australia, ông gọi protein này là kháng nguyên Australia (Au) [60].

Năm 1968 Prince chứng minh kháng nguyên này liên quan tới nhiễm HBV, 1970 Dane quan sát thấy hạt HBV trong máu bệnh nhân trên kính hiển vi điện tử [36]. Kháng nguyên này ngày nay đƣợc gọi tên là kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) và liên quan với nhiễm HBV cấp và mạn. Những thử nghiệm huyết thanh học có độ nhạy và đặc hiệu cao đã sẵn sàng cho HBV và đƣa đến những hiểu biết sâu sắc hơn về lịch sử tự nhiên của bệnh. Các nghiên cứu về sinh bệnh học và dịch tễ học đã đƣa đến sự phát triển một cách an toàn và hiệu quả của Vaccin phòng chống nhiễm HBV cũng nhƣ các thuốc chống virus trong điều trị viêm gan B mạn.

Hiện nay, mối quan tâm hàng đầu và mục tiêu nghiên cứu của các phòng thí nghiệm trên toàn cầu là các vấn đề nhƣ sự kết dính và xâm nhập của virus vào tế bào chủ, các phƣơng pháp điều trị bệnh viêm gan B, nhiễm virus cấp tính và mạn tính, cơ chế gây ung thƣ của HBV. Cấu trúc của HBV Hình 1.1: Hình ảnh virus viêm gan B HBV là virus mang ADN hai sợi không khép kín, có trọng lƣợng phân tử 2 X 106 dalton, đƣợc cấu tạo bởi 3200 nucleotid, họ Hepadnaviridae [21]. Trong máu bệnh nhân, ngoài hạt virus kích thƣớc 42 nm, còn có các thành phần virus dạng cầu, dạng sợi [18]. Cấu trúc của virus gồm các thành phần cơ bản sau: - Lõi: là ADN hình tròn và có một phần sợi kép.

Một sợi dài (L) gần nhƣ khép kín và một phần sợi ngắn (S) thay đổi từ 50 – 100% độ dài so với sợi dài. Trọng lƣợng phân tử gần 2. Lớp này mang đặc trƣng kháng nguyên Hbc. - Capsit: bao quanh lõi, có đối xứng hình khối, kích thƣớc khoảng 27 nm, dày khoảng 7 nm , đƣợc cấu tạo bởi 3 protein cấu trúc: + Protein nhỏ: protein này mang tính quyết định kháng nguyên bề mặt của viêm gan B.

+ Protein trung bình: protein này có tính miễn dịch cao, cảm thụ đặc biệt với albumin. 5 + Protein lớn protein này mang tính quyết định kháng nguyên bề mặt viêm gan B và đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết, xâm nhập của virus vào tế bào gan. Trên phần capsit có cấu trúc chứa 2 kháng nguyên quan trọng là HBcAg và HBeAg, có các enzym ADN- polymerase, proteinkinase. - Vỏ ngoài: chứa kháng nguyên bề mặt HBsAg.

Các kháng nguyên của virus viêm gan B * Kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B (HBsAg) HBsAg là kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B. Nó là dấu ấn miễn dịch quan trọng trong các nghiên cứu dịch tễ học để xác định đƣờng lây truyền, yếu tố nguy cơ và phân vùng HBV. Các thử nghiệm phát hiện HBsAg có vai trò quan trọng trong chẩn đoán viêm gan B cấp và mạn tính [50], [60]. Kháng nguyên HBsAg là thành phần của vỏ bọc lipoprotein của HBV, ở dạng hạt có đƣờng kính 22 nm và dạng ống rộng 22 nm, dài 200 nm.

Trình tự các acid amin của ADN đƣợc xác định ngay sau khi genom của HBV đƣợc tạo dòng. Bốn khung đọc mở (ORF) mã hóa các phần protein lớn hơn 50 acid amin đã đƣợc xác định. Để giải thích đầy đủ các chức năng của protein S, M, L, ngƣời ta sử dụng các danh từ là protein bề mặt của virút viêm gan B loại nhỏ (SHBs), trung bình (MHBs) và lớn (LHBs). Ngoài 3 loại protein HBs trên, các hạt virion còn chứa protein lõi P22, genom ADN của nó, một ADN polymerase mà đó cũng là một ARN- ase phiên mã ngƣợc, và một protein kết thúc nối với đầu 5‟ của sợi ADN đƣợc mã hóa cho protein.

Ngoài ra còn có một protein- kinase có mặt cùng với capsit sẽ phosphoryl hóa protenin lõi. HBsAg mang quyết định kháng nguyên a là quyết định kháng nguyên quan trọng nhất về phƣơng diện sinh miễn dịch. Quyết định nguyên a đƣợc tạo thành bởi các aa 124 đến 147, nó giữ vai trò sinh kháng thể anti-HBs và có tính 6 đặc hiệu nhóm cho HBsAg. Quyết định nguyên a cùng với một số quyết định nguyên phân týp khác nhau nhƣ d, y và w, r tạo nên các phân týp chủ yếu của HBsAg nhƣ adw, ayw, adr, ayr.

Các phân týp này phân bố khác nhau theo vùng địa lý. Ở Việt Nam theo các nghiên cứu mới đây thì phân týp ayw chiếm tỷ lệ 60%, ayr chiếm 17% và adw chiếm 8% [13], [60]. Điều tra này đã giúp các nhà nghiên cứu sản xuất vắcxin theo phân týp lƣu hành ở Việt Nam. * Kháng nguyên lõi của virus viêm gan B (HBcAg: Hepatitis B core antigen) Đây là kháng nguyên chủ yếu của nucleocapsit trong virus viêm gan B.

HBcAg hiếm khi xuất hiện trong huyết thanh mà chủ yếu xuất hiện trong nhân tế bào gan. Sự có mặt của HBcAg với hàm lƣợng cao chứng tỏ có hoạt động sao chép của HBV trong viêm gan cấp. Việc sinh tổng hợp protein lõi dài 185 acid amin bắt đầu với một codon AUG có hiệu suất cao ở đầu 5‟ của ARN thông tin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ