Luận văn điều trị thoái hóa khớp gối bằng dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng

Đánh giá hiệu quả hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp gối nguyên phát bằng phương pháp tập dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng giúp cải thiện vận động và giảm đau.

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
120
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thoái hóa khớp gối nguyên phát và dưỡng sinh

Thoái hóa khớp gối nguyên phát là bệnh lý thoái hóa mạn tính phổ biến ở người cao tuổi. Quá trình này gây tổn thương sụn khớp, biến đổi cấu trúc xương dưới sụn và xơ hóa bao khớp. Bệnh nhân thường gặp các cơn đau kéo dài, cứng khớp buổi sáng và suy giảm tầm vận động. Y học hiện đại thường sử dụng thuốc giảm đau chống viêm non-steroid. Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc dễ dẫn đến biến chứng tiêu hóa và thận. Vì vậy, xu hướng kết hợp các liệu pháp không dùng thuốc ngày càng được ưu tiên. Phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng là một di sản y học cổ truyền đặc sắc. Hệ thống bài tập này kết hợp hài hòa giữa luyện thở, thư giãn tâm trí và vận động trị liệu. Nghiên cứu lâm sàng chứng minh dưỡng sinh hỗ trợ giảm áp lực nội khớp hiệu quả. Người bệnh duy trì tập luyện đúng kỹ thuật sẽ cải thiện lưu thông khí huyết. Đồng thời, các nhóm cơ quanh gối được tăng cường sức mạnh, bảo vệ khớp vững chắc.

1.1. Đặc điểm lâm sàng thoái hóa khớp gối nguyên phát

Bệnh lý biểu hiện rõ qua cảm giác đau nhức âm ỉ tại khớp gối. Cơn đau thường tăng khi vận động, đi lại hoặc lên xuống cầu thang. Cảm giác đau giảm dần khi người bệnh nghỉ ngơi hợp lý. Tình trạng cứng khớp buổi sáng thường kéo dài dưới 30 phút. Khớp gối có thể phát ra tiếng lạo xạo khi co duỗi. Khi bệnh tiến triển nặng, tầm vận động gập duỗi bị thu hẹp đáng kể. Khối cơ tứ đầu đùi quanh khớp teo dần theo thời gian. Sự mất vững khớp làm tăng nguy cơ té ngã ở người lớn tuổi. Chẩn đoán sớm dựa trên tiêu chuẩn ACR và hình ảnh X-quang giúp ngăn ngừa biến dạng khớp.

1.2. Nguyên lý phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng

Phương pháp dưỡng sinh của Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng xây dựng trên ba trụ cột chính. Ba trụ cột gồm bế tinh, dưỡng khí và tồn thần. Bế tinh nhấn mạnh việc giữ gìn tinh lực và duy trì lối sống điều độ. Dưỡng khí tập trung vào kỹ thuật luyện thở sâu bốn thời có kê mông giơ chân. Thao tác này cung cấp lượng oxy dồi dào cho toàn bộ tế bào. Tồn thần rèn luyện sự bình thản tâm trí và kiểm soát cảm xúc tiêu cực. Phương pháp kết hợp nhuần nhuyễn giữa động công và tĩnh công. Các bài tập vận động cột sống và chi dưới kích thích kinh lạc lưu thông. Nhờ đó, cơ thể tự điều chỉnh và phục hồi chức năng khớp tổn thương.

II. Thực trạng thoái hóa khớp gối và hạn chế điều trị hiện nay

Thoái hóa khớp gối nguyên phát tạo ra gánh nặng bệnh tật lớn cho xã hội. Bệnh làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống hàng ngày. Đa số bệnh nhân nhập viện khi mức độ đau trên thang điểm VAS ở mức vừa và nặng. Điểm chỉ số chức năng Lequesne thường phản ánh sự hạn chế vận động rõ rệt. Các hoạt động cơ bản như đi bộ, ngồi xổm hay leo cầu thang đều gặp trở ngại lớn. Điều trị bằng thuốc tây y như NSAID đem lại hiệu quả giảm đau nhanh chóng. Tuy nhiên, thuốc không ngăn chặn được tiến trình thoái hóa sụn khớp tự nhiên. Việc sử dụng thuốc kéo dài thường gây viêm loét dạ dày, suy giảm chức năng gan thận và tăng huyết áp. Thêm vào đó, tâm lý lo âu kéo dài càng làm tăng cảm giác đau và co cứng cơ. Do đó, việc tìm kiếm phương pháp hỗ trợ điều trị bảo tồn như dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng là yêu cầu cấp thiết.

2.1. Đánh giá mức độ đau và tầm vận động khớp gối

Nghiên cứu lâm sàng sử dụng thang điểm VAS để lượng hóa mức độ đau của bệnh nhân. Phần lớn người bệnh có điểm VAS ban đầu từ 4 đến 5 điểm, thuộc mức độ đau vừa. Chỉ số Lequesne đánh giá mức độ tổn thương chức năng khớp gối từ trung bình đến nặng. Tầm vận động gập khớp gối bị hạn chế rõ rệt dưới 120 độ. Sự co rút của gân cơ và dây chằng quanh gối làm giảm biên độ chuyển động. Bệnh nhân gặp khó khăn khi thực hiện các sinh hoạt thường nhật. Việc đánh giá chính xác các chỉ số này giúp xây dựng phác đồ can thiệp phù hợp.

2.2. Hạn chế của thuốc và sự cần thiết của dưỡng sinh

Thuốc giảm đau chống viêm chỉ kiểm soát triệu chứng tạm thời trong các đợt đau cấp. Bệnh nhân có nguy cơ phụ thuộc thuốc khi bệnh tái phát liên tục. Nhiều trường hợp phải ngưng thuốc do gặp tác dụng phụ trên hệ tiêu hóa và tim mạch. Ngược lại, phương pháp tập dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng tác động vào căn nguyên theo y học cổ truyền. Phương pháp giúp khu phong, tán hàn, trừ thấp và thông kinh hoạt lạc. Các động tác tập luyện nhẹ nhàng không tạo áp lực quá tải lên bề mặt sụn. Dưỡng sinh duy trì độ linh hoạt khớp và ngăn ngừa biến chứng teo cơ cứng khớp.

III. Phác đồ tập dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng cho người khớp gối

Quy trình tập dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối gồm ba giai đoạn liền mạch. Giai đoạn khởi đầu tập trung vào thư giãn toàn thân và thở bốn thời có kê mông giơ chân. Kỹ thuật thở này tăng cường trao đổi khí tại phổi và điều hòa thần kinh thực vật. Tiếp theo là các động tác vận động chuyên biệt cho vùng thắt lưng, khớp háng và khớp gối. Các động tác tiêu biểu gồm co đùi vào bụng, ưỡn cổ chân và vặn cột sống. Người bệnh thực hiện động tác từ tốn, biên độ tăng dần theo khả năng chịu đựng. Mỗi buổi tập kéo dài khoảng 30 đến 45 phút, thực hiện đều đặn hai lần mỗi ngày. Không gian tập luyện cần thoáng mát, yên tĩnh để tạo sự tập trung tâm trí cao độ. Việc kết hợp xoa bóp day ấn huyệt quanh khớp gối trước và sau buổi tập giúp giãn cơ tối đa. Sự kiên trì luyện tập mang lại hiệu quả giảm đau rõ rệt sau 4 đến 6 tuần can thiệp.

3.1. Kỹ thuật luyện thở 4 thời và thư giãn toàn thân

Luyện thở 4 thời là bài tập nền tảng trong hệ thống dưỡng sinh. Thời một hít vào sâu, ngực nở bụng phình, duy trì sự êm nhẹ. Thời hai giữ hơi, cơ hoành đóng lại, tăng cường áp lực nội lồng ngực. Thời ba thở ra triệt để, ngực xẹp bụng thót, đẩy hết khí cặn ra ngoài. Thời bốn nghỉ ngơi hoàn toàn, thả lỏng toàn bộ cơ bắp. Thao tác kê mông cao và giơ chân giúp máu tĩnh mạch chi dưới hồi lưu về tim dễ dàng. Thư giãn tâm trí giúp giảm trương lực cơ và giải tỏa ức chế thần kinh trung ương.

3.2. Các động tác vận động khớp gối và chi dưới

Các động tác vận động chi dưới tập trung kéo giãn bao khớp và củng cố cơ quanh gối. Động tác co đùi vào bụng giúp kéo căng nhẹ nhàng cơ ụ ngồi và dây chằng sau gối. Động tác ưỡn lưng, nâng mông kích hoạt nhóm cơ mông và cơ lưng dưới. Bài tập quay cổ chân và co duỗi gối tăng tiết dịch nhầy bôi trơn ổ khớp. Người bệnh cần giữ nhịp thở đều đặn khi chuyển động cơ thể. Tuyệt đối không gắng sức tạo cảm giác đau nhói đột ngột ở khớp. Luyện tập đúng kỹ thuật sẽ kích thích lưu thông máu và nuôi dưỡng sụn khớp tổn thương.

IV. Tác dụng phục hồi và ứng dụng dưỡng sinh trong điều trị

Nghiên cứu lâm sàng khẳng định tập dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng là phương pháp hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp gối nguyên phát an toàn và hiệu quả cao. Kết quả can thiệp cho thấy điểm đau VAS của bệnh nhân giảm mạnh sau liệu trình điều trị. Chỉ số Lequesne cải thiện đáng kể, phản ánh chức năng vận động khớp gối được phục hồi tốt. Tầm vận động gập duỗi khớp tăng lên rõ rệt, giúp người bệnh đi lại và sinh hoạt dễ dàng hơn. Đặc biệt, phương pháp không ghi nhận bất kỳ tác dụng không mong muốn nào trên hệ tiêu hóa hay tim mạch. Bệnh nhân có thể tự thực hành tại nhà mà không tốn kém chi phí y tế. Dưỡng sinh không chỉ điều trị tổn thương tại khớp mà còn nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần toàn diện. Đây là giải pháp phục hồi chức năng lý tưởng cần được nhân rộng trong cộng đồng người cao tuổi.

4.1. Hiệu quả cải thiện chức năng và chất lượng cuộc sống

Các dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự cải thiện vượt trội về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Bộ câu hỏi đánh giá SF-36 ghi nhận điểm số tăng cao ở cả khía cạnh thể chất lẫn tinh thần. Cơn đau thuyên giảm giúp giấc ngủ của người bệnh sâu hơn và tâm lý thoải mái hơn. Khả năng tự chủ trong sinh hoạt cá nhân như tắm rửa, mặc quần áo và leo cầu thang tăng rõ. Sự phối hợp giữa vận động và thở sâu mang lại nguồn sinh lực dồi dào. Người bệnh tái hòa nhập tích cực vào các hoạt động xã hội thường nhật.

4.2. Khuyến nghị thực hành dưỡng sinh an toàn tại nhà

Người bệnh cần được thầy thuốc hướng dẫn chuẩn xác kỹ thuật trước khi tự tập luyện tại nhà. Quá trình tập luyện đòi hỏi tính kiên trì, đều đặn mỗi ngày từ 30 đến 45 phút. Không nên tập khi khớp gối đang trong đợt sưng nóng đỏ đau cấp tính. Luôn khởi động kỹ các khớp cổ chân, khớp gối và khớp háng trước khi vào bài tập chính. Chú ý giữ ấm cơ thể trong thời tiết lạnh để tránh kích phát cơn đau khớp. Kết hợp chế độ dinh dưỡng giàu canxi, kiểm soát cân nặng hợp lý để giảm tải áp lực cơ học lên đầu gối.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

05/06/2026
Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp gối nguyên phát bằng phương pháp tập dưỡng sinh nguyễn văn hưởng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Thoái hóa khớp (THK) là một bệnh khớp thƣờng gặp ở mọi quốc gia trên thế giới. Có khoảng 18% nữ và 9,5% nam giới trên toàn cầu mắc bệnh THK nói chung, trong đó THK gối chiếm tới 15% dân số [1]. Đây là một trong những căn bệnh phổ biến nhất về bệnh lý về khớp và là căn nguyên hàng đầu gây tàn tật trên toàn thế giới, chủ yếu do triệu chứng đau và hạn chế vận động – lý do chính khiến ngƣời bệnh đến bệnh viện và phòng khám chuyên khoa để điều trị [2]. Theo ƣớc tính năm 2010, THK gối chiếm tỷ lệ 3,8% toàn cầu, ảnh hƣởng đến 250 triệu ngƣời trên thế giới [3].

Ở Mỹ hàng năm có khoảng 21 triệu ngƣời mắc bệnh THK gối, với 4 triệu ngƣời phải nằm viện, khoảng 100.000 bệnh nhân (BN) không thể đi lại đƣợc do THK gối nặng. Trong đó có 10% nam giới và 13% nữ giới 60 tuổi trở lên đƣợc chẩn đoán mắc THK gối [4]. THK gối là nguyên nhân gây tàn tật cho ngƣời có tuổi đứng thứ hai sau bệnh tim mạch [5]. Ở Việt Nam, theo thống kê của khoa Cơ xƣơng khớp bệnh viện Bạch Mai từ 1991 – 2000 cho thấy THK đứng hàng thứ ba (4.66%) trong các bệnh có tổn thƣơng khớp, trong đó THK gối chiếm 56,5% tổng số các bệnh khớp do thoái hóa cần điều trị nội trú [6].

Khớp gối bị thoái hóa không những làm ảnh hƣởng tới chất lƣợng cuộc sống mà còn gây tổn hại kinh tế của ngƣời bệnh do phải chi phí cho điều trị. Tại các nƣớc Châu Âu chi phí trực tiếp cho điều trị THK khoảng 4.000 USD/ bệnh nhân/ năm [7]. Ở Việt Nam chi phí cho một đợt điều trị nội khoa THK khoảng 2 đến 4 triệu đồng, chƣa kể đến chi phí cho các dịch vụ khác liên quan đến điều trị [8]. Theo Y học cổ truyền (YHCT) THK gối thuộc phạm vi chứng tý.

Nguyên nhân do phong, hàn, thấp xâm phạm cùng với chính khí suy giảm mà gây nên bệnh, việc điều trị thƣờng kết hợp phƣơng pháp (PP) dùng thuốc và không dùng thuốc YHCT nhƣ châm cứu, bấm huyệt, khí công dƣỡng sinh (DS) [9]. Các PP chữa bệnh không dùng thuốc với ƣu thế ít tác dụng không mong muốn, phù hợp với tính chất bệnh lý mạn tính hay tái phát của THK đang ngày càng đƣợc đánh giá cao. PP DS của Nguyễn Văn Hƣởng là một PP tự luyện tập nhằm mục đích tăng cƣờng sức 2 khỏe, phòng bệnh, trị một số bệnh mạn tính và tiến tới sống lâu sống có ích đã có nhiều nghiên cứu về PP này [10]. Ở Việt Nam PP DS của Nguyễn Văn Hƣởng đã và đang đƣợc áp dụng rộng rãi trong điều trị nhiều bệnh đạt hiệu quả cao.

Tuy vậy ở Việt Nam chƣa có nghiên cứu về PP DS này trên BN THK gối. Với mục đích cung cấp thêm PP hỗ trợ điều trị cho ngƣời bệnh THK gối, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp gối nguyên phát bằng phƣơng pháp tập dƣỡng sinh Nguyễn Văn Hƣởng” với hai mục tiêu sau: 1. Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp gối nguyên phát bằng phương pháp tập dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng. Khảo sát một số tác dụng không mong muốn của phương pháp.

3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THOÁI HÓA KHỚP GỐI THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 1. Định nghĩa Thoái hóa khớp gối Thoái hóa khớp gối là hậu quả của quá trình cơ học và sinh học làm mất cân bằng giữa sự tổng hợp và hủy hoại của sụn khớp và xƣơng dƣới sụn. Sự mất cân bằng này có thể đƣợc bắt đầu bằng nhiều yếu tố: di truyền, phát triển, chuyển hóa và chấn thƣơng, biểu hiện cuối cùng của THK là các thay đổi hình thái, sinh hóa, phân tử và cơ sinh học của tế bào và các chất cơ bản của sụn dẫn đến nhuyễn hóa, nứt loét và mất sụn khớp, xơ hóa xƣơng dƣới sụn.

Bệnh thƣờng gặp ở nữ giới, chiếm 80% trƣờng hợp THK gối [1] [11]. Hình ảnh khớp gối bình thường và bị thoái hóa [12] 1. Nguyên nhân của thoái hóa khớp gối Năm 1991, Altman và cộng sự đề nghị xếp loại THK thành hai loại: THK nguyên phát và THK thứ phát. Cách phân loại này đến nay vẫn đƣợc nhiều tác giả ứng dụng [13].

THK gối nguyên phát: Sự lão hóa là nguyên nhân chính, bệnh thƣờng xuất hiện muộn ở ngƣời trên 60 tuổi, nhiều vị trí, tiến triển chậm, tăng dần theo tuổi. Nguyên nhân lão hóa theo tuổi đƣợc giải thích do các tế bào sụn sau thời gian lâu sẽ 4 già, khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi collagen và mucopolysacharid sẽ giảm sút và rối loạn, chất lƣợng sụn kém dần đặc biệt là tính đàn hồi và chịu lực, hơn nữa các tế bào sụn của ngƣời trƣởng thành không có khả năng sinh sản và tái tạo [11] [14]. THK gối thứ phát: Phần lớn do các nguyên nhân cơ giới, gặp ở mọi lứa tuổi (thƣờng là dƣới 40 tuổi), khu trú ở một vài vị trí. Có thể gặp: - Sau chấn thƣơng: Gãy xƣơng gây lệch trục, can lệch, tổn thƣơng sụn chêm sau chấn thƣơng hoặc sau cắt sụn chêm, các vi chấn thƣơng liên tiếp do nghề nghiệp.

Các tổn thƣơng này dẫn đến rối loạn phân bố lực làm tổn thƣơng sụn khớp sớm. - Sau các bệnh lý xƣơng sụn: Hoại tử xƣơng, hoại tử sụn do viêm, viêm khớp dạng thấp, bệnh Goute… - Các bệnh nội tiết (Đái tháo đƣờng, to viễn cực…), rối loạn đông máu (bệnh Hemophilie) cũng là nguyên nhân gây THK gối thứ phát [11] [14]. Cơ chế bệnh sinh và các yếu tố liên quan đến quá trình phát triển THK gối 1. Cơ chế bệnh sinh Tổn thƣơng cơ bản trong THK xảy ra ở sụn khớp.

Hiện nay, có nhiều nghiên cứu cho rằng có hai cơ chế chính làm khởi phát quá trình phát triển THK ở hầu hết các BN. - Cơ chế đầu tiên là do tác động về cơ giới, có thể là một chấn thƣơng lớn hoặc là vi chấn thƣơng lặp đi lặp lại dẫn đến các tế bào sụn giải phóng ra các enzyme phá hủy và các đáp ứng sửa chữa tƣơng ứng rất phức tạp, cuối cùng dẫn đến phá hủy sụn [11] [14]. - Cơ chế thứ hai là các tế bào sụn cứng lại do tăng áp lực, giải phóng các enzyme tiêu protein, hủy hoại dần các chất cơ bản là nguyên nhân dẫn đến THK. Những thay đổi của sụn khớp và phần xƣơng dƣới sụn trong THK: Trong bệnh lý THK, sụn khớp là tổ chức chính bị tổn thƣơng.

Sụn khớp khi bị thoái hóa sẽ chuyển sang màu vàng nhạt, mất tính đàn hồi, mỏng, khô và nứt nẻ. Những thay đổi này tiến triển dần đến giai đoạn cuối là những vết loét, mất dần tổ chức sụn, làm trơ 5 ra các đầu xƣơng dƣới sụn. Phần rìa xƣơng và sụn có tân taọ xƣơng (gai xƣơng) [11] [14]. Cơ chế giải thích quá trình viêm trong THK: Mặc dù là quá trình thoái hóa, song trong THK vẫn có hiện tƣợng viêm diễn biến thành từng đợt, biểu hiện bằng đau và giảm chức năng vận động của khớp tổn thƣơng, tăng số lƣợng tế bào trong dịch khớp kèm theo viêm màng hoạt dịch kín đáo về tổ chức học.

Nguyên nhân có thể do phản ứng của màng hoạt dịch với các sản phẩm thoái hóa sụn, các mảnh sụn, hoặc xƣơng bị long ra [11] [14]. Cơ chế gây đau khớp trong THK gối: Trong bệnh THK gối, đau là nguyên nhân đầu tiên khiến bệnh nhân đi khám. Do sụn khớp không có hệ thần kinh nên đau có thể do các cơ chế sau [11] [14]. - Viêm màng hoạt dịch, các cơ bị co kéo.

- Xƣơng dƣới sụn có tổn thƣơng rạn nứt nhỏ gây kích thích phản ứng đau. - Gai xƣơng gây căng các đầu mút thần kinh ở màng xƣơng [11] [14]. Các yếu tố liên quan đến quá trình phát triển thoái hóa khớp Không có nguyên nhân đơn độc nào gây THK. THK là một quá trình của sự phá hủy sụn khớp, sự thay đổi collagen, proteoglycan, đầu xƣơng, màng hoạt dịch [11] [14].

Có nhiều yếu tố liên quan dẫn đến THK: Tuổi: Tuổi là yếu tố quan trọng nhất trong THK, tần số THK tăng dần theo tuổi. Theo Brandt KD trên 80% những ngƣời trên 55 tuổi có dấu hiệu THK trên XQ, trong đó có 10 – 20% có sự hạn chế vận động do THK [15]. Cân nặng: Sự tăng khối lƣợng cơ thể có liên quan rõ ràng với THK, béo phì làm tăng tỷ lệ THK lên 1.9 lần ở nam và 3,2 lần ở nữ. Điều này gợi ý rằng béo phì đóng vai trò quan trọng trong việc làm nặng thêm THK gối.

Theo Felson khi cân nặng cơ thể giảm thì tỷ lệ THK gối giảm từ 25- 30% và khớp háng 25% hoặc hơn nữa [16]. Giới: Dƣới 55 tuổi tỷ lệ THK ở nam bằng nữ, sau 55 tuổi tỷ lệ THK ở nữ nhiều hơn nam. Điều này thể hiện sự liên quan giữa estrogen với THK. Sự giảm 6 hormone sinh dục nữ làm giảm tế bào sụn.

Sau mãn kinh lƣợng estrogen suy giảm là nguy cơ cao gây THK [11]. Yếu tố chấn thƣơng và cơ học: Những chấn thƣơng mạnh làm rạn nứt bề mặt sụn có thể là nguồn gốc gây THK. Theo Felson khi ngăn chặn chấn thƣơng khớp gối có thể giảm tỷ lệ THK ở nam là 25%, ở nữ là 15% [16]. Ngoài ra còn có các yếu tố khác nhƣ vấn đề di truyền, các Cytokin, yếu tố nghề nghiệp…[17].

TÓM TẮT CƠ CHẾ BỆNH SINH THK GỐI (Howell 1988) [18] Bất thƣờng sụn khớp Yếu tố cơ học Lão hóa Chấn thƣơng Viêm Béo phì Rối loạn chuyển hóa Khớp không ổn đinh Nhiễm trùng Dị dạng khớp Sụn khớp Chất cơ bản Bất thƣờng sụn khớp Thoái biến collagen Tế bào sụn tổn thƣơng Xơ gãy PG Tăng các enzyme thủy phân protein Tăng sự thoái hóa Sụn khớp bị rạn vỡ Hẹp khe khớp Đầu xƣơng dƣới sụn mất bảo vệ Xƣơng tân tạo 7 1. Triệu chứng của THK gối 1. Triệu chứng lâm sàng của THK gối BN THK gối có một số triệu chứng chính sau: - Đau: Đây là triệu chứng chủ đạo khiến BN phải đi khám, đau tại vị trí khớp, ít lan xa. Đau kiểu cơ học tăng khi vận động (đi lại, lên xuống dốc, ngồi xổm…), đau giảm khi nghỉ ngơi, đau với tính chất âm ỉ, có thể đau nhiều về chiều (sau một ngày lao động).

Đau diễn tiến thành từng đợt ngắn tùy trƣờng hợp, hết đợt có thể hết đau, sau đó tái phát đợt khác [11] [14].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ