Đánh giá tác dụng viên nang ích khí dưỡng não trị huyết áp thấp - Trần Long

Nghiên cứu đánh giá tác dụng của viên nang ích khí dưỡng não trong điều trị bệnh nhân huyết áp thấp, cải thiện triệu chứng và nâng cao hiệu quả hồi phục.

Trường đại học

Học viện Y học cổ truyền Việt Nam

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2021

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về viên nang ích khí dưỡng não trị huyết áp thấp

Huyết áp thấp là tình trạng chỉ số huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hoặc huyết áp tâm trương dưới 60 mmHg. Bệnh lý này gây suy giảm tuần hoàn máu não và các cơ quan ngoại vi. Bệnh nhân thường gặp các biểu hiện điển hình như hoa mắt, chóng mặt, đau đầu, mệt mỏi và choáng váng khi thay đổi tư thế. Y học cổ truyền xếp huyết áp thấp vào phạm vi các chứng như Huyễn vựng, Hư lao hoặc Huyết chứng. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tình trạng khí huyết hư suy, tỳ vị bất hòa và dương khí kém thăng đề. Viên nang ích khí dưỡng não là chế phẩm thảo dược bào chế theo quy chuẩn hiện đại. Bài thuốc kế thừa tinh hoa từ các bài thuốc cổ phương nổi tiếng như Bổ trung ích khí thang và Sinh mạch tán. Dược liệu trong công thức tập trung vào công năng đại bổ nguyên khí, dưỡng tâm an thần, sinh tân chỉ khát và ích khí thăng đề. Dạng bào chế viên nang mang lại sự tiện lợi trong sử dụng, đảm bảo hoạt chất được chuẩn hóa đồng đều, giúp người bệnh duy trì phác đồ điều trị lâu dài.

1.1. Khái niệm huyết áp thấp theo y học hiện đại và cổ truyền

Theo Y học hiện đại, huyết áp thấp biểu hiện qua sự sụt giảm áp lực tưới máu toàn thân. Người bệnh có chỉ số huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg và tâm trương dưới 60 mmHg. Tình trạng này khiến tế bào não thiếu hụt oxy và dưỡng chất liên tục. Ngược lại, Y học cổ truyền quan niệm huyết áp thấp bắt nguồn từ tạng phủ suy nhược. Khí hư không thể thúc đẩy huyết dịch lưu thông, còn huyết hư không thể nuôi dưỡng kinh mạch. Hai yếu tố kết hợp dẫn đến thanh dương không thăng, não thất dưỡng và sinh ra triệu chứng hoa mắt, đoản hơi, vô lực.

1.2. Nguồn gốc bài thuốc viên nang ích khí dưỡng não

Viên nang ích khí dưỡng não được phát triển dựa trên nguyên lý trị liệu bổ khí sinh huyết của Đông y. Các thảo dược chủ vị như Hoàng kỳ, Đảng sâm đóng vai trò ích khí kiện tỳ. Dược liệu Mạch môn, Ngũ vị tử hỗ trợ sinh tân dưỡng âm. Sự phối hợp này tăng cường chức năng tâm tỳ, nâng cao trương lực mạch máu tự nhiên. Công nghệ chiết xuất hiện đại loại bỏ tạp chất và giữ trọn hoạt chất sinh học quý. Chế phẩm đáp ứng tiêu chuẩn kiểm nghiệm nghiêm ngặt của Bộ Y tế trước khi đưa vào ứng dụng thực tế.

II. Thực trạng và cơ chế bệnh sinh của chứng huyết áp thấp

Bệnh huyết áp thấp đang ngày càng phổ biến trong cộng đồng, đặc biệt ở nhóm tuổi lao động từ 25 đến 65 tuổi. Bệnh nhân văn phòng và người làm việc trí óc chiếm tỷ lệ mắc bệnh rất cao. Áp lực công việc kéo dài cùng thói quen ít vận động làm rối loạn hệ thần kinh thực vật. Tuần hoàn máu kém khiến lưu lượng máu đến vỏ não suy giảm nghiêm trọng. Triệu chứng tụt huyết áp tư thế đứng thường xuyên xảy ra, gây nguy cơ té ngã và chấn thương nguy hiểm. Cơ chế bệnh sinh theo Y học cổ truyền thể hiện rõ ở sự suy giảm khí huyết của các tạng Tâm, Tỳ, Thận. Tỳ vị suy yếu làm giảm nguồn sinh hóa khí huyết, khiến huyết dịch không đủ nuôi dưỡng não bộ. Khí hư dẫn đến thanh dương chìm đắm, không thăng phát lên vùng đầu mặt. Tình trạng này kéo dài làm xuất hiện các đợt choáng váng, suy nhược cơ thể và suy giảm trí nhớ. Việc điều trị triệt để đòi hỏi phương pháp tác động toàn diện vào căn nguyên tạng phủ.

2.1. Phân bố bệnh học và ảnh hưởng sức khỏe người bệnh

Khảo sát dịch tễ cho thấy đa số bệnh nhân huyết áp thấp có thời gian mắc bệnh kéo dài từ 1 đến 5 năm. Bệnh xuất hiện nhiều ở nhóm người có chỉ số thể trọng bình thường và gầy. Tình trạng tụt huyết áp mãn tính làm giảm rõ rệt hiệu suất công việc và chất lượng sống. Các cơn đau đầu vùng chẩm, chóng mặt khi đứng dậy và cảm giác kiệt sức diễn ra thường xuyên. Nếu không can thiệp kịp thời, bệnh có thể dẫn đến suy giảm nhận thức hoặc ngất đột ngột.

2.2. Hạn chế của các biện pháp điều trị tây y đơn thuần

Thuốc Tây y điều trị huyết áp thấp chủ yếu thuộc nhóm nâng huyết áp tạm thời hoặc co mạch ngoại vi. Nhóm thuốc này mang lại hiệu quả nhanh nhưng tác dụng duy trì ngắn. Người bệnh dễ gặp các tác dụng không mong muốn như đánh trống ngực, bồn chồn và tăng huyết áp hồi ứng. Việc phụ thuộc thuốc kéo dài không giải quyết được căn nguyên thiếu máu não mãn tính. Do đó, xu hướng kết hợp chế phẩm y học cổ truyền đang trở thành giải pháp an toàn và bền vững.

III. Tác dụng của viên nang ích khí dưỡng não trên lâm sàng

Viên nang ích khí dưỡng não mang lại giải pháp điều trị toàn diện thông qua cơ chế bổ khí, dưỡng huyết và an thần. Thử nghiệm lâm sàng tiến hành đối chứng chặt chẽ theo dõi trong 30 ngày điều trị liên tục. Kết quả cho thấy sản phẩm giúp cải thiện rõ rệt cả chỉ số huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Lưu lượng tuần hoàn động mạch não được gia tăng đáng kể, giúp phục hồi chức năng tế bào thần kinh. Đa số bệnh nhân ghi nhận huyết áp trở về mức ổn định sinh lý bình thường. Không chỉ nâng chỉ số huyết áp, viên nang ích khí dưỡng não còn giải quyết dứt điểm các triệu chứng lâm sàng. Người bệnh giảm nhanh cảm giác hoa mắt, chóng mặt và đau đầu sau 15 ngày dùng thuốc. Tình trạng mệt mỏi, hụt hơi khi vận động nhẹ cũng thuyên giảm rõ rệt. Khảo sát chỉ số men gan AST, ALT và chức năng thận chứng minh sản phẩm an toàn tuyệt đối, không gây độc tính trong suốt liệu trình.

3.1. Hiệu quả cải thiện huyết áp tâm thu và tâm trương

Đánh giá lâm sàng ghi nhận chỉ số huyết áp tâm thu tăng trung bình từ 15 đến 20 mmHg sau đợt điều trị. Huyết áp tâm trương tăng đều đặn từ 10 đến 15 mmHg, đạt ngưỡng ổn định an toàn. Hơn 90% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đạt hiệu quả nâng huyết áp rõ rệt. Sự gia tăng áp lực tưới máu giúp các mao mạch não nhận đủ dưỡng chất. Kết quả này chứng minh tác dụng điều hòa huyết động vượt trội của bài thuốc.

3.2. Mức độ thuyên giảm các triệu chứng lâm sàng toàn thân

Triệu chứng hoa mắt, chóng mặt và đau đầu ghi nhận tỷ lệ thuyên giảm từ 85% đến 95% sau liệu trình 30 ngày. Bệnh nhân ngủ sâu giấc hơn, giảm hẳn cảm giác bốc hỏa và hồi hộp trống ngực. Sức bền thể lực cùng khả năng tập trung trí tuệ được phục hồi tích cực. Chế phẩm thảo dược còn hỗ trợ chức năng tiêu hóa, giúp người bệnh ăn uống ngon miệng và tăng cường thể trạng tổng quát.

IV. Đánh giá ứng dụng viên nang ích khí dưỡng não điều trị

Nghiên cứu khoa học khẳng định viên nang ích khí dưỡng não là chế phẩm y học cổ truyền an toàn và hiệu quả cao cho bệnh nhân huyết áp thấp. Sự kết hợp hài hòa giữa lý luận Đông y và công nghệ bào chế hiện đại giúp tối ưu hóa sinh khả dụng của dược liệu. Sản phẩm giải quyết tận gốc nguyên nhân khí huyết hư suy, đồng thời phục hồi chức năng tạng phủ bền vững. Chỉ số huyết áp được duy trì ổn định ngay cả sau khi kết thúc liệu trình dùng thuốc. Việc đưa viên nang ích khí dưỡng não vào phác đồ điều trị mở ra hướng đi triển vọng cho y học tích hợp. Chế phẩm đáp ứng tốt nhu cầu điều trị ngoại trú nhờ tính tiện dụng và độ an toàn cao. Bệnh nhân huyết áp thấp nên tuân thủ đúng liều lượng chỉ định kết hợp chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi hợp lý. Đây là giải pháp hữu hiệu giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh suy nhược cơ thể.

4.1. Khuyến nghị liều dùng và phác đồ điều trị chuẩn

Bệnh nhân nên sử dụng viên nang ích khí dưỡng não theo liệu trình tối thiểu 30 ngày liên tục. Liều dùng thông thường là 2 đến 3 viên mỗi lần, uống 2 lần mỗi ngày sau bữa ăn. Người bệnh cần duy trì dùng thuốc đều đặn để đạt hiệu quả chuyển hóa khí huyết tốt nhất. Trong quá trình điều trị, bệnh nhân cần kết hợp đo huyết áp định kỳ để theo dõi sát sao tiến triển sức khỏe.

4.2. Biện pháp duy trì huyết áp ổn định lâu dài

Bên cạnh việc dùng thuốc, người bệnh cần thiết lập lối sống lành mạnh và khoa học. Uống đủ 2 lít nước mỗi ngày giúp duy trì khối lượng tuần hoàn ổn định. Chế độ ăn nên bổ sung đầy đủ chất đạm, vitamin nhóm B và khoáng chất cần thiết. Thường xuyên tập luyện thể dục nhẹ nhàng như đi bộ hoặc yoga giúp tăng cường độ dẻo dai thành mạch, ngăn ngừa tái phát huyết áp thấp hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

05/06/2026
Đánh giá tác dụng của viên nang ích khí dưỡng não trong điều trị bệnh nhân huyết áp thấp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về huyết áp thấp theo Y học hiện đại 1.1 Huyết áp và các yếu tố ảnh hưởng Huyết áp là áp suất nhất định để máu chảy được trong lòng mạch, được biểu thị bằng hai trị số [5],[6]. - Huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu) là áp suất máu đo được trong thời kỳ tâm thu. Trị số bình thường ở người trưởng thành là 90 - 140mmHg.

- Huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương) là áp suất máu đo được trong thời kỳ tâm trương. Trị số bình thường ở người trưởng thành là 60 - 90mmHg. - Huyết áp trung bình được coi là huyết áp đưa máu lên não, được tính theo công thức: HATB = + HATTr * Các yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp - Huyết áp phải giữ được ở mức cho phép thì mao mạch của hệ thống tuần hoàn mới được tưới máu đầy đủ. Huyết áp động mạch phụ thuộc vào thể tích máu do thất trái đẩy vào hệ thống mạch máu theo đơn vị thời gian (còn gọi là cung lượng tim) và trở kháng đối với luồng máu mao mạch ngoại vi (còn gọi là sức cản ngoại vi).

- Huyết áp, lưu lượng máu và sức cản ngoại vi có mối liên quan chặt chẽ với nhau theo công thức: P= Trong đó: P là huyết áp L là lưu lượng tuần hoàn R là sức cản ngoại vi K là hằng số 4 - Khi lưu lượng tuần hoàn giảm, sức cản ngoại vi giảm thì huyết áp sẽ giảm và ngược lại [5],[6]. - Cung lượng tim (hay lưu lượng tim): phụ thuộc vào thể tích tâm thu và nhịp tim, mà thể tích tâm thu lại phụ thuộc vào lực co bóp cơ tim và nhịp tim [5],[6]. - Thể tích tâm thu: là thể tích máu do tâm thất trái (hay tâm thất phải) tống được vào động mạch chủ (hay động mạch phổi) trong mỗi nhát bóp của tim ở thì tâm thu. Hệ thống tĩnh mạch đóng vai trò rất quan trọng vì nó có thể chứa 65 - 67% toàn bộ thể tích máu cho nên ứ máu tĩnh mạch sẽ làm giảm lưu lượng tim [5],[6].

- Lực co bóp của tim: để máu trở về tim được nhiều, tim phải có khả năng đẩy được nhiều máu đi. Cơ tim co bóp càng yếu thì thể tích tâm thu càng giảm, lưu lượng tim giảm làm cho huyết áp giảm [5],[6]. - Nhịp tim: khi tim đập chậm mà thể tích tâm thu không tăng thì lưu lượng tim giảm và huyết áp giảm. Khi tim đập nhanh, tuy thể tích tâm thu không tăng nhưng vẫn làm cho lưu lượng tăng vì vậy huyết áp tăng.

Nhưng khi tim đập quá nhanh do thời gian tâm trương ngắn, lượng máu về tim giảm vì vậy thể tích tâm thu giảm nhiều làm cho lưu lượng tim giảm và huyết áp giảm [5],[6]. - Sức cản ngoại vi là trở lực mà tâm thất trái phải thắng để có thể đẩy được máu từ tâm thất trái tới các mạch máu ngoại vi, trở lực này phụ thuộc vào: + Độ nhớt máu: khi độ nhớt máu tăng, đòi hỏi một sức co bóp lớn hơn mới đẩy máu lưu thông được trong lòng mạch, cho nên khi độ nhớt máu giảm cũng góp phần làm huyết áp giảm [5],[6]. + Sức đàn hồi của thành mạch: trở kháng của một mạch máu tỉ lệ nghịch với bán kính lũy thừa bậc 4 của mạch máu đó. Như vậy huyết áp phụ thuộc nhiều vào mức độ co giãn cơ trơn của thành mạch.

Sức đàn hồi của thành 5 mạch là yếu tố chính ảnh hưởng tới sức cản ngoại vi. Khi giãn mạch, sức cản ngoại vi giảm dẫn tới huyết áp giảm. - Các yếu tố ảnh hưởng tới huyết áp đã nêu trên hoạt động phối hợp chặt chẽ để duy trì huyết áp ở mức độ ổn định. Nếu một trong các yếu tố trên thay đổi, những yếu tố còn lại sẽ hoạt động bù ngay dưới sự kiểm soát điều hòa của hai cơ chế thần kinh và thể dịch [5],[6].2 Định nghĩa huyết áp thấp Một người có HAT, nghĩa là huyết áp của người đó luôn thấp hơn so với mức bình thường của người cùng lứa tuổi [7].

Không kể những trường hợp hạ huyết áp trong sốc cấp cứu như: mất máu, mất nước… mà chỉ nói tới những người có huyết áp thấp liên tục, từ trước tới nay vẫn thấp hoặc thấp trong thời gian dài không có tính chất đột ngột, người trưởng thành có huyết áp tối đa trong giới hạn 90 - 140mmHg, huyết áp tối thiểu 60 - 90mmHg, dưới mức chỉ số sau đây là huyết áp thấp [1], [5],[6], [8]: Huyết áp tối đa (HATT) <90mmHg. Huyết áp tối thiểu (HATTr) <60mmHg.3 Phân loại huyết áp thấp Huyết áp thấp là biểu hiện sự rối loạn chức năng vỏ não của trung khu thần kinh vận mạch [9]. Huyết áp thấp được chia ra làm hai loại: Huyết áp thấp nguyên phát và huyết áp thấp thứ phát [1], [5],[6]. - Huyết áp thấp nguyên phát: Có những người thường xuyên có huyết áp thấp.

Huyết áp tâm thu từ 85 - 90mmHg nhưng sức khỏe hoàn toàn bình thường, chỉ khi đo huyết áp mới phát hiện ra bị huyết áp thấp. Đây là những người có thể tạng đặc biệt, từ nhỏ tới lớn huyết áp vẫn như thế nhưng không hề có biểu hiện tổn thương ở bộ phận nào trong cơ thể. Những người này vẫn sinh hoạt bình thường. Tuy nhiên, khi gắng sức thì vẫn có thể thấy chóng mặt [1], [4],[7], [10].

Do đó, đa phần không được coi là bệnh lý và không cần điều trị gì. 6 - Huyết áp thấp thứ phát là những trường hợp trước đó vẫn có huyết áp bình thường, nhưng sau huyết áp bị giảm dần sau một đến ba tháng. Huyết áp thấp thứ phát này thường gặp ở những người suy nhược kéo dài, mắc các bệnh như nhiễm khuẩn, lao, thiểu năng tuần hoàn não, nhiễm độc kéo dài. - Huyết áp thấp thứ phát thường có ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng làm việc và sức khỏe của người bị bệnh [1], [4],[7], [10].

Đây là loại bệnh cần được điều trị kịp thời tránh gây ra hậu quả cho bệnh nhân. Đồng thời có thể đề phòng được các biến chứng nguy hiểm xảy ra cho người bệnh.4 Cơ chế dẫn tới huyết áp thấp theo Y học hiện đại Những phương thức được thể hiện qua sơ đồ sau: 7 GIẢM HUYẾT ÁP ĐỘNG MẠCH Giảm lưu lượng tim Giảm sức cản ngoại vi Giảm nhịp tim Giảm thể tích Giảm co bóp Giảm độ nhớt nhát bóp cơ tim máu Giảm lượng máu về tim Rối loạn chuyển hóa cơ tim Thay đổi tư thế Giảm trương lực thần kinh giao cảm Giãn tĩnh mạch Tổn thương cơ tim Ứ máu tĩnh mạch Sơ đồ 1.1: Các phương thức làm giảm huyết áp 8 1.5 Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán huyết áp thấp * Triệu chứng cơ năng Mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, hay quên, giảm tập trung trí lực, nhất là khi thay đổi tư thế có thể thoáng ngất hoặc ngất. Nếu để bệnh nhân ở tư thế nằm thì sau 1-2 phút các triệu chứng có thể giảm dần rồi hết hẳn [1],[4],[9]. Các triệu chứng phong phú và thường xuất hiện sớm như: Đau đầu mạn tính Là triệu chứng thường gặp, thường đau đầu phía sau, không có điểm đau cố định mà ở cả khu vực chẩm – cổ, cường độ đau vừa phải có thể chịu đựng được, đau ê ẩm, râm ran, nặng đầu, khó chịu, gần giống như đau của suy nhược thần kinh, đau thường xen kẽ với các triệu chứng khác (chóng mặt, rối loạn thăng bằng, rối loạn thị giác.) hoặc khởi phát của đợt đau, rồi sau đó bị che lấp bởi các triệu chứng khác [11].

Chóng mặt Là triệu chứng thường xuất hiện sớm nhất, thời gian có thể bị rất ngắn thoáng qua hoặc kéo dài vài giờ đến vài ngày. Đặc biệt thường xảy ra lúc thay đổi tư thế đột ngột nhất là khi quay cổ nhanh, khi chuyển tư thế từ nằm sang ngồi hay sang tư thế đứng. Cảm giác bồng bềnh, có vật quay quanh mình, tối sầm mắt đứng không vững [11]. Mất ngủ Là triệu chứng thường gặp, dai dẳng, khó chịu.

Ở giai đoạn đầu hay gặp là chứng mất ngủ ở nửa đầu của đêm. Ở giai đoạn sau, hay gặp tình trạng mới ngủ thì được nhưng đến nửa đêm thì thức giấc không sao ngủ được [11]. Giảm trí nhớ Đặc điểm giảm trí nhớ của người xơ vữa động mạch não là tính giao động và có xu hướng luôn thay đổi. Dễ nhận thấy nhất là ở một thời điểm nào 9 đó bệnh nhân quên hẳn tên một người hay một vật mà trong điều kiện khác họ rất nhớ, không thể quên được vì đó là những người, những vật vốn gặp hàng ngày.

Những hiện tượng như vậy rất phổ biến, có thể gọi là tiền triệu, sau này rối loạn trí nhớ mới rõ rệt và trầm trọng thêm [11]. * Triệu chứng thực thể Nhịp tim nhanh, có khi ngoại tâm thu, có khi có nhịp chậm, cung lượng tim giảm rõ rệt [7],[12]. * Chẩn đoán Chẩn đoán huyết áp thấp dựa vào đo huyết áp nhiều lần (nên theo dõi huyết áp liên tục 24 giờ bằng Holter) ở nhiều tư thế khác nhau. Huyết áp tâm thu <90mmHg và huyết áp tâm trương <60mmHg thì là tình trạng huyết áp thấp.

* Chẩn đoán phân biệt Kết hợp lâm sàng với cận lâm sàng để phân biệt huyết áp thấp tiên phát hay thứ phát sau cơn động kinh, hạ canxi huyết, hạ đường huyết [12].6 Điều trị huyết áp thấp hiện nay - Nguyên tắc điều trị: bao gồm 2 nguyên tắc chính + Đánh giá các thực thể bệnh chính có khả năng hồi phục + Phương thức đặc hiệu cho huyết áp thấp không hồi phục Trong đó phương thức đặc hiệu cho điều trị huyết áp thấp không hồi phục được cụ thể hóa qua các mặt: - Biện pháp cơ học + Quần áo mặc ép phần dưới cơ thể + Chuyển động chậm - Tăng thể tích tuần hoàn + Chế độ ăn nhiều muối 10 + Dùng fludrocortisone acetate (0,1- 0,5 mg/ngày) - Tác nhân dược lý + Chất tăng tiết Adrenaline + Chất gây co mạch + Chất ức chế tổng hợp Prostaglandin + Chất kháng Serotonin - Điều trị: Ngoài việc điều trị nguyên nhân, việc điều trị huyết áp thấp cần chú ý tới nghỉ ngơi, tăng cường ăn uống, rèn luyện thân thể tác động đến trạng thái thần kinh, chức năng co bóp của tim và điều tiết các mạch máu có tác dụng nâng HA. Thuốc thường dùng: trong điều trị người bệnh có chứng huyết áp thấp thứ phát, một thuốc thường được xem xét và sử dụng cho phù hợp với từng người bệnh và mức độ bệnh: + Ephedrin có tác dụng co mạch, tăng HA.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ