Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG 1. Khái niệm về bệnh viện: Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới cả gia đình và môi trường cư trú. Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu sinh học xã hội”.
Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện là một hệ thống, một phức hợp và một tổ chức động: Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm: Ban giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng. Bệnh viện là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan từ khám bệnh, người bệnh vào viện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc… Bệnh viện là một tổ chức động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán, điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe hoặc người bệnh tử vong [27]. Khái niệm dịch vụ Y tế: Dịch vụ y tế là một dịch vụ khá đặc biệt.
Về bản chất, dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi các nhân viên y tế như khám bệnh, chữa bệnh và phục vụ bệnh nhân. Dịch vụ y tế là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về sức khỏe. Với tính chất đặc biệt như vậy, chất lượng dịch vụ y tế được quyết định bởi 2 yếu tố cơ bản, đó là chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Chất lượng kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chuẩn đoán và điều trị bệnh.
Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính như cơ sở vật chất của bệnh viện, giao tiếp của nhân viên y tế với bệnh nhân, cách thức tổ chức quy trình khám, chữa bệnh, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh [42]. Khái niệm về người bệnh nội trú: Khi mắc bệnh, người bệnh có thể được khám và kê đơn thuốc điều trị, trong một số trường hợp người bệnh phải vào viện để điều trị nội trú.Việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến việc vào, chuyển hoặc ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, chuyển khoa phải bảo đảm kịp thời và không gây phiền hà cho người bệnh [21]. Khái niệm ngày điều trị nội trú: Là một ngày, trong đó người bệnh được hưởng mọi chế độ điều trị nội trú, chăm sóc mà bệnh viện phải đảm bảo bao gồm: chẩn đoán, điều trị thuốc, chăm sóc, nghỉ ngơi…[5] Số ngày điều trị nội trú = (ngày ra viện – ngày vào viện) + 1 1. Khái niệm sự hài lòng: Theo Philip Kotler (2001) thì “Sự thỏa mãn - hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái, cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được qua quá trình tiêu dùng sản phẩm với những kỳ vọng của họ.
Mức độ hài lòng phụ thuộc vào sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng, nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì khách hàng không hài lòng, nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng hài lòng, nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ vọng thì khách hàng rất hài lòng” [38]. Sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ y tế phụ thuộc rất nhiều vào kết quả của công tác khám, chữa bệnh, vào các mối quan hệ phát sinh trong quá trình khám chữa bệnh. Vì thế, đánh giá sự hài lòng của khách hàng trong trường hợp này thực chất là đánh giá chất lượng của dịch vụ y tế. Tầm quan trọng sự hài lòng của người bệnh với bệnh viện: Trong việc đánh giá chất lượng khám chữa bệnh tại các cơ sở bệnh viện, sự hài lòng của người bệnh là tiêu chí quan trọng nhất.
WHO đã định nghĩa khái quát một cách toàn diện về sức khoẻ: “Sức khoẻ là tình trạng hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ là không có bệnh và tật”. Sự hài lòng của người bệnh là những nhu cầu cần thiết về khám, chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe của người bệnh cần được đảm bảo đáp ứng. Mục tiêu lâu dài của bệnh viện là phải đạt chỉ tiêu 6 hài lòng hoàn toàn. Đánh giá sự hài lòng của người bệnh là tiêu chí hàng đầu trong đánh giá chất lượng toàn diện của bệnh viện, đồng thời là tiêu chuẩn thi đua hàng năm để xác định chất lượng hoạt động của bệnh viện.
Khi nhu cầu của người bệnh được thoả mãn, sự hài lòng được tăng lên chứng tỏ bệnh viện đã có bước phát triển về mọi mặt, chất lượng khám, chữa bệnh được nâng cao. Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh: Các yếu tố liên quan về phía người bệnh: độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ, dân tộc, bảo hiểm y tế, thu nhập bình quân, số lần khám chữa bệnh tại bệnh viện, khoa nằm điều trị…có mối liên quan đến sự hài lòng của người bệnh [7]. Các yếu tố liên quan về phía bệnh viện: Việc tổ chức hoạt động của bệnh viện nhằm cung cấp dịch vụ y tế an toàn hiệu quả làm cho người bệnh hài lòng bao gồm nhiều khía cạnh. Trong đó sự tiếp cận với dịch vụ y tế là bước đầu giúp người bệnh được khám chữa bệnh một cách thuận lợi.
Tại phòng khám, trước khi vào viện người bệnh được thực hiện quy trình khám bệnh chung đảm bảo tính khoa học, công bằng, giảm thời gian chờ đợi, NVYT có kỹ năng giao tiếp tốt không gây phiền hà cho người bệnh, tinh thần thái độ phục vụ tốt. Công tác khám, chẩn đoán và điều trị, kịp thời, hiệu quả. Người bệnh được cung cấp thuốc đủ, sử dụng thuốc an toàn và hợp lý, trang thiết bị y tế hiện đại phục vụ chẩn đoán và điều trị hiệu quả; Người bệnh được chăm sóc tận tình, hướng dẫn chế độ ăn uống tập luyện chu đáo. Cơ sở vật chất phương tiện môi trường bệnh viện sạch, an toàn đảm bảo cho người bệnh cảm thấy thoải mái yên tâm điều trị.
Ngoài ra bệnh viện cần phát triển các dịch vụ khác tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người bệnh.CÁC NHÓM TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ: 1. Khả năng tiếp cận: Sự tiếp cận là một cụm từ chung dùng để miêu tả mức độ một sản phẩm, thiết bị, dịch vụ, hoặc môi trường có thể được sử dụng bởi càng nhiều người càng tốt. Sự tiếp cận có thể được xem như khả năng tiếp cận và khả năng hưởng lợi từ một hệ thống hay vật chất. Sự tiếp cận thường được dùng tập trung vào những người khuyết tật hoặc 7 có nhu cầu đặc biệt hoặc quyền tiếp cận tới các thực thể khác nhau, thường thông qua việc sử dụng thiết bị hỗ trợ [1].
Tiếp cận là một khái niệm đa chiều. Các phương diện của tiếp cận bao gồm sự tiếp cận về địa lý, tính sẵn có, khả năng chi trả, và sự chấp nhận của người dân [33][38]. Sự tiếp cận dịch vụ y tế vẫn là một thách thức chính tại các quốc gia trên thế giới. Các yếu tố về kinh tế, xã hội, chính trị, hành chính, địa lý và văn hoá cùng với nhau ảnh hưởng tới hành vi tìm kiếm và sự tiếp cận với dịch vụ y tế.
Các chi phí mà người dân không thể trả nổi cho các dịch vụ y tế cho thấy là rào cản lớn nhất của người nghèo khi tiếp cận với các dịch vụ y tế [14]. Tiếp cận với dịch vụ KCB y tế công lập: là khả năng mà người sử dụng dịch vụ KCB khi cần có thể đến sử dụng dịch vụ tại nơi cung cấp dịch vụ KCB y tế công lập[13]. Người sử dụng dịch vụ KCB y tế công lập: là những người khi có tình trạng sức khoẻ bất thường hoặc khi có nhu cầu đến KCB, mua thuốc hay sử dụng bất cứ hình thức cung cấp dịch vụ KCB nào do các cơ sở y tế công lập. Công bằng trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB là sự đối xử, sự đáp ứng theo yêu cầu của mỗi người hay mỗi nhóm người khi có nhu cầu KCB thì được sử dụng dịch vụ KCB theo hướng mọi người có bệnh như nhau sẽ được chăm sóc y tế như nhau, không phụ thuộc vào khả năng chi trả [19].
Sự tiếp cận với các dịch vụ y tế tại bệnh viện trong khuôn khổ nghiên cứu này được hiểu theo nghĩa tiếp cận về mặt địa lý. Nghĩa là người bệnh dễ dàng tìm đến được nơi cần khám bệnh, thực hiện các xét nghiệm hay làm thủ tục nhập viện theo quy trình khám chữa bệnh. Vì vậy, bệnh viện cần cung cấp các sơ đồ biển báo chỉ dẫn đường đến các khoa phòng trong bệnh viện rõ ràng dễ hiểu, dễ tìm. Thời gian thăm bệnh được thông báo rõ ràng, giúp người bệnh và người nhà chủ động trong việc chăm sóc người bệnh tại bệnh viện.
Các lối đi trong bệnh viện bằng phẳng dễ đi, các khối nhà đánh số rõ ràng. Khoa Khám bệnh và Khoa Cấp cứu được bố trí liên thông tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh di chuyển, kể cả người khuyết tật hay người bệnh nặng cần phải di chuyển bằng xe đẩy hoặc cáng cứu thương. Khi có việc cần thiết người bệnh có thể tìm được nhân viên y tế và nhận 8 được sự hướng dẫn rõ ràng kịp thời. Người bệnh là đối tượng có bảo hiểm y tế hoặc không có BHYT đều được cơ hội tiếp cận dịch vụ như nhau.
Sự minh bạch thông tin và thủ tục khám điều trị: Minh bạch là một khái niệm mới tại Việt Nam, trong các nghiên cứu và thảo luận nội hàm của khái niệm này còn có nhiều ý kiến khác nhau, dù rằng nhiều ý kiến đều thống nhất được về vai trò quan trọng của minh bạch trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội ở mọi lĩnh vực và mọi cấp độ. Nhiều chuyên gia cho rằng cần làm rõ hơn khái niệm minh bạch so với cách hiểu thông thường, chẳng hạn như minh bạch thường đồng nghĩa với công khai. Khái niệm minh bạch cần được đánh giá rộng hơn, ra ngoài phạm vi của chỉ số thành phần minh bạch [22]. Theo nghĩa vật lí thông thường, minh bạch (transparency) có nghĩa là có thể nhìn xuyên qua sự vật hiện tượng sang phía bên kia.