CHƯƠNG 1-TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm dùng trong nghiên cứu 1. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1. Khái niệm Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh hô hấp phổ biến có thể phòng và điều trị được.
Bệnh đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp dai dẳng và giới hạn luồng khí, là hậu quả của những bất thường của đường thở và/hoặc phế nang thường do phơi nhiễm với các phân tử hoặc khí độc hại, trong đó khói thuốc lá, thuốc lào là yếu tố nguy cơ chính, ô nhiễm không khí và khói chất đốt cũng là yếu tố nguy cơ quan trọng gây BPTNMT. Các bệnh đồng mắc và đợt kịch phát làm nặng thêm tình trạng bệnh (1, 9). BPTNMT là một bệnh mạn tính của phổi nhưng kèm theo rối loạn toàn thân và bệnh lý phối hợp (10). Trong danh mục dùng chung áp dụng trong quản lý khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế, BPTNMT có mã J44 (11).
Triệu chứng BPTNMT Ở giai đoạn sớm của BPTNMT hầu như người bệnh không có triệu chứng lâm sàng kể cả các dấu hiệu trên Xquang phổi. Ở giai đoạn muộn, người bệnh có các triệu chứng điển hình như ho, khạc đờm, khó thở. Ho là triệu chứng đầu tiên, có thể có kèm đờm, nếu đờm mủ là một trong các dấu hiệu báo hiệu đợt cấp (1). Khó thở lúc đầu chỉ xuất hiện khi gắng sức, lâu dần theo thời gian thì khó thở cả khi nghỉ ngơi và xuất hiện liên tục, nặng hơn khi nhiễm trùng đường hô hấp.
Khạc đờm là dấu hiện có tính chất đặc trưng của BPTNMT (12). Tùy vào mức độ triệu chứng cơ năng khác nhau, tùy vào từng bệnh nhân có những biểu hiện khác nhau như đau tức ngực, chán ăn, lo âu, sút cân, rối loạn giấc ngủ, ngừng thở khi ngủ, suy giảm trí nhớ, rối loạn tình dục (13). Một số yếu tố nguy cơ Những yếu tố có tính chất vật chủ như di truyền, tăng phản ứng đường thở hay phát triển phổi không bình thường trong giai đoạn sơ sinh, còn nhỏ (9). Hen phế 5 quản cũng là yếu tố nguy cơ góp phần dẫn đến sự phát triển của BPTNMT (1, 12).
Những yếu tố có tính chất phơi nhiễm dẫn tới mắc BPTNMT như hút thuốc lá, tiếp xúc với không khí ô nhiễm hay các chất hóa học, khí, bụi nghề nghiệp. Ngoài ra còn một số yếu tố cũng góp phần phát triển BPTNMT như nhiễm trùng, dinh dưỡng, tuổi, giới tính, vàình trạng kinh tế xã hội (12). Chẩn đoán Chẩn đoán BPTNMT dựa trên tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây bệnh và khám lâm sàng gồm: (1) Bệnh hay gặp ở nam giới trên 40 tuổi; (2) Tiền sử hút thuốc lá/lào (thường là 10 bao/năm trở lên), tiếp xúc với môi trường ô nhiễm, nhiễm khuẩn hô hấp tái diễn, lao phổi… và tăng tính phản ứng đường thở; (3) Các triệu chứng ho, khác đờm, khó thở đặc trưng của BPTNMT; (4) FEV1/FVC < 70% sau test phục hồi phế quản, đây là tiêu chuẩn chẩn đoán xác định (1). Theo GOLD 2018, mức độ tắc nghẽn đường thở được chia làm 04 giai đoạn tương ứng với các trị số FEV1 ở các khoảng sau (6): Giai đoạn GOLD Giá trị FEV1 sau test hồi phục phế quản Giai đoạn 1 FEV1 ≥ 80% trị số lý thuyết Giai đoạn 2 50% ≤ FEV1 < 80% trị số lý thuyết Giai đoạn 3 30% ≤ FEV1< 50% trị số lý thuyết Giai đoạn 4 FEV1 < 30% trị số lý thuyết 1.
Tình hình mắc BPTNMT trên thế giới và Việt Nam Tỷ lệ mắc BPTNMT tăng theo thời gian. Năm 2010, ước tính trên toàn thế giới có 384 triệu người từ 30 tuổi mắc BPTNMT chiếm 11,7% (tăng 156,7 triệu người so với năm 1990), trong đó Đông Nam Á là khu vực có tỷ lệ thấp nhất với 9,7%. Tính trên quần thể dân số từ 40 tuổi, số lượng người mắc BPTNMT trong năm 1990 và 2010 lần lượt là 166,6 triệu người và 292,8 triệu người (3). Tỷ lệ mắc BNPTNMT vẫn tiếp tục gia tăng do sự tăng tỷ lệ hút thuốc lá ở các nước đang phát triển và sự già hóa dân số ở các nước phát triển (6).
Số lượng và tỷ lệ mắc thực tế công bố từ các nghiên cứu dịch tễ rất khác nhau do khác nhau về độ tuổi của quần thể nghiên cứu, đặc trưng theo vùng miền. Tại Tây Ban Nha, Marc 6 Miravitlles và cộng sự (2009), tỷ lệ lưu hành BPTNMT trong độ tuổi 40-80 là 10,2%(14). Theo Sarah và cộng sự (2014), nghiên cứu thực hiện tại 12 quốc thuộc châu Âu, Á, và Mỹ đã đưa ra tỷ lệ hiện mắc BPTNMT dao động từ 7% đến 12%, (15). Lym và cộng sự (2015) thực hiện nghiên cứu tại 9 quốc gia Châu Á Thái Bình Dương đã đưa ra tỷ lệ lưu hành BPTNMT là 6,2% (16).
Tại Hà Lan, Natalie Terzikhan (2015) đã công bốtỷ lệ mắc BPTNMT sau khi kết thúc nghiên cứu tăng 8,9% so với lúc bắt đầu triển khai là 4,7% (17). Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nỗ lực để xác định tỷ lệ mắc BPTNMT (18). Năm 2010, kết quả từ cuộc điều tra dịch tễ BPTNMT toàn quốc đưa ra tỷ lệ mắc trong cộng đồng dân cư từ 40 tuổi là 4,2%, và có sự khác nhau về giới tính (nam: 7,1%; nữ: 1,9%,), và vùng miền (miền Bắc: 5,7%, miền Trung: 4,6%, miền Nam: 1,9%) (4). Hoàng Thị Lâm và cộng sự (2014) đưa ra tỷ lệ lưu hành BPTNMT của người trưởng thành ở phía bắc 7,1% (nam: 10,9%, nữ: 3,9%) (5).
Một nghiên cứu tiến hành trên quần thể người từ 40 tuổi không hút thuốc lá bởi Nguyễn Viết Nhung và cộng sự (2015) đã đưa ra tỷ lệ mắc BPTNMT là 8,1%, ta có thể suy luận tỷ lệ mắc BPTNMT trên cộng đồng chung còn cao hơn nhiều. Năm 2019, Bệnh viện Bạch Mai đưa ra nhận định, tỷ lệ người mắc BPTNMT vẫn có xu hướng gia tăng (19). Thực tế, tỷ lệ mắc BPTNMT trên thế giới đặc biệt ở Việt Nam còn cao hơn rất nhiều do bỏ sót chưa được chẩn đoán vì năng lực chẩn đoán chưa đáp ứng, nhiều trường hợp chẩn đoán không được ghi nhận. Gánh nặng của BPTNMT vẫn đang là một thách thức lớn trong phòng ngừa và điều trị.
Tỷ lệ tử vong trên toàn thế giới cũng có xu hướng gia tăng theo thời gian: năm 2010 có khoảng 3 triệu người tử vong; từ năm 1990 đến năm 2015 tăng 1,6% (7), năm 2016 là khoảng 3,1 triệu người; ước tính năm 2030 và 2040 lần lượt là 4,5 triệu người (6), và 6,7 triệu người và là nguyên nhân đứng thứ tư gây tử vong (8). Chất lượng cuộc sống 1. Khái niệm về chất lượng cuộc sống Chất lượng cuốc sống là một khái niệm rộng, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội, y học, triết học, tâm lý học. Thuật ngữ này bắt 7 đầu được sử dụng vào những năm 1920 (20).
Trong y học, khái niệm CLCS đã bắt đầu xuất hiện từ những năm 1960, được sử dụng phổ biến từ những năm 1970 (21-25). Trong giai đoạn này CLCS được đánh giá ở các khía cạnh hài lòng và hạnh phúc (26, 27). Theo thời gian, CLCS có nhiều hướng tiếp cận để đưa ra khái niệm. Điểm chung của các khái niệm đã được đưa ra là vẫn đề cập về sự hài lòng và hạnh phúc.
Hörnquist JO (1982) tiếp cận từ đánh giá mức độ cần thiết và sự hài lòng về thể chất, tâm lý, xã hội, hoạt động, vật chất và cấu trúc (28); Gotay (1992) tiếp cận qua đánh giá thể hiện sự hạnh phúc và sự hài lòng; Paul W. Jones (1995) đo lường tác động của bệnh tật đến cuộc sống hàng ngày và hạnh phúc (29); CLCS được đánh giá toàn diện hơn khi Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra vào năm 1997: “CLCS là nhận thức của một cá nhân có được trong đời sống của mình, trong bối cảnh văn hóa, và hệ thống giá trị mà cá nhân sống, trong mối tương tác với những mục tiêu những mong muốn, những chuẩn mực, và những mối quan tâm. Đó là một khái niệm rộng, đa chiều phụ thuộc vào hệ thống phức hợp của trạng thái sức khoẻ thể chất, trạng thái tâm lý hay mức độ độc lập, những mối quan hệ xã hội và môi trường sống của mỗi cá nhân” (2, 30, 31). CLCS đã được đánh giá ở bốn khía cạnh là sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, các mối quan hệ xã hội và môi trường sống.
Chúng ta có thể nhận thấy khái niệm về sức khỏe là một trong những nguồn gốc của khái niệm CLCS mà của Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra vào năm 1947 (32). Sức khỏe là một trong các yếu tố khi đánh giá CLCS. Một phạm trù nhỏ hơn về CLCS thấy xuất hiện trong y văn là chất lượng cuộc sống liên quan tới sức khỏe (CLCSLQSK). Cụm từ này bắt đầu xuất hiện vào giữa những năm 1980 (21).
Bài báo của tác giả Torrance, năm 1987 là một trong số các bài báo đầu tiên đưa ra khái niệm CLCSLQSK. CLCS là một khái niệm kết hợp tất cả các yếu tố mà tác động đến cá nhân, còn CLCSLQSK là liên quan tới tình trạng sức khỏe hoặc bệnh tật (35). Trong thời kì đó, nhiều nhà 8 nghiên cứu đã đánh đồng 2 khái niệm và CLCS và CLCSLQSK như nhau (21). Theo Carol (2005) CLCSLQSK cũng là một khái niệm đa chiều có liên quan đến tác động của bệnh và phương pháp điều trị và kết hợp những lĩnh vực liên quan tới thể chất, tinh thần và cảm xúc, và hoạt động xã hội (20, 36), là những khía cạnh mà khái niệm của Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra.
Các bộ công cụ đánh giá CLCS cho người bệnh BPTNMT a) Các bộ công cụ đánh giá CLCS của người BPTNMT CLCS của người bệnh BPTNMT đã từng được đo lường bằng các bộ công cụ khác nhau. Saskia và cộng sự (2013), đã thực hiện nghiên cứu hệ thống phân tích từ 77 nghiên cứu có chất lượng liên quan tới đánh giá CLCS của người bệnh BPTNMT đánh giá các bộ công cụ sử dụng trong chăm sóc và nghiên cứu để đo lường CLCS của người bệnh BPTNMT đã tổng kết được là có 10 bộ công cụ sử dụng đánh giá chung cho nhiều bệnh (SF-36, SF12, DartmCoop, SIP, NHP, WHOQOLBREF, QWBSA, Hyland Scale, MYMOP, EQ-5D) và 13 bộ cộng cụ được thiết kế sử dụng chuyên biệt cho BPTNMT (CRQ, SGRQ và SGRQ-C, AQ20/30, AQ20/R, CAT, CCQ, MRF-28, SIR, LAS/VAS-8, VSRQ, RQLQ, LCOPD, McGill COPDTrong các bộ câu hỏi chuyên biệt, hầu hết các công cụ được thiết kế để người bệnh tự điền, chỉ có bộ VSRQ là phải phỏng vấn.