Chương 1: Giới thiệu vấn đề, mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu Chương 2: Khái niệm lý thuyết y sinh, lược khảo lý thuyết kinh tế và các nghiên cứu liên quan. 5 Chương 3: Đề xuất phương pháp nghiên cứu, định nghĩa các biến và thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Các kết quả về thống kê mô tả và mô hình hồi quy; từ đó phân tích các yếu tố tác động đến điểm số CLCS cũng như sự ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp lọc thận của người bệnh. Chương 5: Kết luận của nghiên cứu, những gợi ý về hàm ý chính sách và hạn chế của nghiên cứu.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm CLCS và các thang đo 2. Khái niệm CLCS CLCS vốn là một khái niệm đã trở nên nổi tiếng từ sau cuộc điều tra xã hội ở Châu Âu vào thập niên 1970, đó là một khái niệm miêu tả đến tổng thể tình trạng sảng khoái, hài lòng hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội. Theo Alber và cộng sự (2005) trình bày CLCS không những là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần mà còn vượt qua phạm trù điều kiện sống cá nhân mỗi người đang đạt được.
Ở đây CLCS bao gồm các lĩnh vực như: phát triển kinh tế, y tế, sức khỏe và cả về mặt chính trị. Tổ chức Y Tế Thế Giới (1998) đã đưa ra “bộ tiêu chí CLCS” gồm 100 câu hỏi trắc nghiệm để đánh giá mức độ sảng khoái bao gồm về thể chất, tâm thần và xã hội. Trong đó: Mức độ sảng khoái về thể chất gồm: sức khỏe, tinh thần, ăn uống, ngủ, nghỉ, đi lại và cả bao gồm thuốc men Mức độ sảng khoái về tâm thần gồm: tâm lý, tâm linh (tín ngưỡng, tôn giáo). Mức độ sảng khoái về xã hội gồm: Các mối quan hệ xã hội kể cả quan hệ tình dục và môi trường sống (bao gồm cả môi trường xã hội: an toàn, an ninh, kinh tế, văn hóa, chính trị và môi trường thiên nhiên) Ngoài ra, Nussbaum và cộng sự trong một nghiên cứu (1993) đã nhấn mạnh khái niệm CLCS phải được phân biệt với mức sống.
Nếu mức sống có tiêu chí đo lường chủ yếu dựa vào thu nhập thì CLCS không chỉ là về thu nhập, sự giàu có và việc làm mà còn là môi trường xã hội, môi trường sống, sức khỏe (về thể chất và tinh thần), giáo dục, giải trí và cuộc sống riêng tư”. Qua những phân tích vừa nêu trên, CLCS có thể được khái quát như sau: CLCS là một chỉ số tổng hợp thể hiện về trí tuệ, tinh thần và vật chất của con người, là mục tiêu phát triển bền vững mà mọi quốc gia hướng đến. Thang đo CLCS Việc khảo cứu Y văn cho thấy các nghiên cứu sử dụng thang đo CLCS được thực hiện lần đầu vào thập niên 1970, từ đó hình thành các hướng phát triển những bộ công cụ đo lường, đánh giá về chức năng hoạt động của con người trong cuộc sống hàng ngày. Nghiên cứu của Yfantopoulos (2001) trình bày những bộ công cụ đo lường CLCS và hiện tại có thể chia làm: Thang đo lường chung và Thang đo lường bệnh chuyên biệt.1 Thang đo lường chung (Generic instrument) Được thiết kế để đo lường tình trạng sức khỏe của dân số chung.
Các thang đo này được áp dụng đo lường trong các dạng khác nhau của bệnh, khuyết tật, suy giảm chưa năng và điều trị. Một số thang đo lường chung bao gồm: Bảng 2.1: Thang đo lường chung STT Tên thang đo Tên viết tắt 1 EuroQol EQ-5D 2 Nottingham Health Profile NHP 3 Short Form 36 SF-36 4 Short Form 12 SF-12 5 Sickness Impact Profile SIP 2.2 Thang đo lường bệnh chuyên biệt (Disease specific instruments) Được thiết kế cho những nhóm dân số có tình trạng sức khỏe chuyên biệt. Những công cụ này có đủ độ nhạy để đo được những biến đổi trên sức khỏe người bệnh. Một số thang đo chuyên biệt cho đo lường mức độ STM như: 8 Bảng 2.2: Bộ công cụ đo lường chuyên dụng STT Tên thang đo Tên viết tắt 1 Kidney Disease Quality of Life-Long Form KDQOL-LF 2 Kidney Disease Quality of Life-Short Form KDQOL-SF 3 Kidney Disease Questionnaire KDQ 4 Kidney Transplant Questionnaire KTQ 5 Renal Quality of Life Profile RQLP 6 Choice Health Experience Questionnaire CHEQ 2.3 Bộ câu hỏi Short Form 36 (SF-36) Theo Gibbons và Fitzpatrick (2010), các nghiên cứu về việc thiết kế bộ công cụ SF-36 để đo lường CLCS được bắt nguồn từ hoạt động của Rand Corporation trong những năm 1970 và SF-36 được xuất bản vào năm 1990.
Bộ công cụ này thiết kế để ứng dụng cho các tình trạng sức khỏe khác nhau của dân số. Bộ SF-36 đo lường dựa trên tám thang điểm và sau đó được tóm tắt lại thành hai thang điểm chính là điểm số thể chất (physical component score - PCS) và điểm số tinh thần (mental component score - MCS). Tám điểm số bao gồm: sức khỏe thể chất (SKTC) (Physical Functioning), hạn chế do vấn đề sức khỏe thể chất (HC_SKTC) (Role limitations due to physical health), hạn chế do vấn đề cảm xúc (HC_VĐCX) (Role limitations due to emotional problems), sức sống (SS) (Vitality), sức khỏe tinh thần (SKTT) (Mental health), hoạt động xã hội (HĐXH) (Social functioning), sự đau đớn (SĐĐ) (Bodily Pain) và sức khỏe tổng quát (SKTQ) (General health). Bên cạnh đó, SF-36 có một số ưu điểm như: đơn giản, dễ làm theo, có thể dễ đọc và theo dõi cho người tham gia nghiên cứu, ngoài ra còn hữu ích cho việc xác định tâm lý các bệnh kèm theo.3: Một số nghiên cứu xác định tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ SF-36 Tài liệu Địa Thời Đối Cỡ Tên nghiên cứu Kết quả tham khảo điểm gian tượng mẫu Kiểm định bộ câu Anh 1992 Người 1980 Hệ số hỏi khảo sát SF- bệnh từ Cronbach Brazier và 36 – công cụ đo độ tuổi α≥0,85 cộng sự lường mới trong 16-74 (1992) Chăm sóc sức được chọn khỏe ban đầu lựa ngẫu nhiên Kiểm định bộ câu Úc 1996 Người 90 Hệ số hỏi SF-36 phiên bệnh bị Cronbach Craig bản thu gọn thông đột quị α>0,7 Anderson qua khảo sát lần 1 có và cộng sự (1996) Người bệnh Đột độ tuổi quị trung bình trên 72 Bảng tham chiếu Tây 2003 Người 3949 Hệ số Lopez và gốc - phiên bản Ban bệnh từ Cronbach cộng sự Tây Ban Nha - Nha độ tuổi α từ 0,84 (Lopez- cho Khảo sát Sức trên 60 đến 0,95 Garcia et al., khỏe ở người cao 2003) tuổi thông qua bộ câu hỏi SF-36 CLCS của người Iran 2015 Người 250 Hệ số bệnh thông qua bệnh đang Cronbach Rad và cộng CTNT và TPPM được điều từ 0,79 sự (Rad et qua một nghiên trị CTNT đến 0,87 al., 2015) cứu phân tích tổng hợp tại Iran.
10 Qua các nghiên cứu được tổng hợp tại Bảng 2.3 cho thấy bộ câu hỏi SF-36 là bộ công cụ đo lường CLCS đáp ứng tiêu chuẩn nghiêm ngặt về độ tin cậy và giá trị ứng dụng với hệ số Cronbach α rất cao (>0,7). Bệnh Suy Thận Mãn 2. Định nghĩa Theo Bộ Y Tế Việt Nam (2015): “Bệnh STM là tổn thương thận về cấu trúc (biểu hiện bằng tiểu protein, tiểu máu kéo dài, bất thường của thận phát hiện trên siêu âm, X-quang) kèm hoặc không kèm giảm chức năng thận với độ lọc cầu thận <60ml/ph/1,73 m2, kéo dài trên 3 tháng” 2. Mức lọc cầu thận Kết quả từ nghiên cứu của Hallan & Orth (2010) cho hay bệnh thận được đánh giá giai đoạn dựa vào độ lọc cầu thận (GFR: Glomerular Filtration Rate) hoặc độ thanh lọc créatinine mà không dựa vào créatinine huyết thanh đơn độc.
Độ thanh lọc créatinine theo công thức Cockcroft Gault như sau: ml (140 tuổi) cân nặng (kg) Độ thanh lọc créatinine ( ) ph 72 créatinine huyết thanh ( mg ) dl Ghi chú: “Nhân thêm với 0,85 nếu là nữ Diện tích da = [(cân nặng (kg) * chiều cao (cm)/3600]1/2 Độ thanh lọc créatinine (ml/ph/1,73) Độ thanh lọc créatinine*1,73 / DTD Độ lọc cầu thận ước đoán (estimated GFR, eGFR) trực tiếp từ créatinine huyết thanh, dựa theo công thức của Modification Diet of Renal Disease: eGFR (ml/ph/1,73 m2) = 1,86 * (créatinine huyết thanh)–1,154 * (tuổi)–0,203 Ghi chú: Nhân với 0,742 nếu là nữ, nhân với 1,21 nếu là người Mỹ gốc Phi. Phương pháp lọc máu ngoài thận 2. Thẩm phân phúc mạc 2. Khái niệm Thẩm phân phúc mạc (TPPM) là kỹ thuật lọc máu đơn giản, hiệu quả và an toàn dùng để thải các độc tố ứ đọng và dịch dư thừa do suy thận cấp hoặc mãn.
Hiện tại TPPM ít được dùng trong điều trị suy thận cấp nhưng được áp dụng phổ biến trong điều trị STM với nhiều cải tiến về mặt kỹ thuật như dịch lọc, hệ thống túi đôi. Các số liệu nghiên cứu của Daugirdas và cộng sự (2014) đã cho biết thời gian mà người bệnh được sống thêm và CLCS của người bệnh STM sử dụng TPPM tương đương với người bệnh STM sử dụng CTNT. Có 2 kỹ thuật thẩm phân được sử dụng trong điều trị STM hiện nay: TPPM di động liên tục làm bằng tay (Continuous Ambulatory Peritoneal Dialysis) và TPPM bằng máy (Automated Peritoneal Dialysis). Trong mỗi kỹ thuật này lại có nhiều phương thức lọc khác nhau với các cách gọi tương ứng.
Ở bài nghiên cứu này tác giả chọn kĩ thuật đã được Bộ Y Tế (2018) thông qua và ban hành Hướng dẫn phác đồ điều trị là TPPM di động liên tục làm bằng tay. TPPM trong điều trị STM ở người lớn tuổi – Tỉ lệ người bệnh lớn tuổi STM áp dụng trị liệu TPPM trên thế giới rất khác nhau. Ví dụ cùng tại Châu Âu nhưng tỉ lệ người bệnh STM sử dụng TPPM ở Hà Lan chỉ 10% nhưng tại Pháp là 21% và theo một nghiên cứu của Ho-dac-Pannekeet (2006) thì các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội có tác động đến tỉ lệ người bệnh TPPM – Nhìn chung tỉ lệ của những biến chứng kèm theo và CLCS của người bệnh TPPM ở lứa tuổi trung niên và lớn tuổi tương tự như ở nhóm người bệnh trẻ tuổi. Một số nghiên cứu ghi nhận rằng người lớn tuổi dễ mắc những biến chứng như viêm phúc mạc, thoát vị, rò dịch và suy dinh dưỡng hơn so với người trẻ.
– Thuận lợi của TPPM ở người lớn tuổi: bảo tồn được chức năng sinh lý thận, ổn định về tim mạch, người bệnh không phải vào – ra bệnh viện nhiều lần (điều trị ngoại trú), không cần mở cầu nối động tĩnh mạch (một số người bệnh lớn tuổi bị 12 bệnh đái tháo đường có tổn thương nặng hệ mạch máu nên rất khó tạo cầu nối động tĩnh mạch để chạy thận nhân tạo). – Khó khăn: Cần trợ giúp từ gia đình và xã hội vì người bệnh không thể tự thay dịch được do mất trí, run tay chân, cũng như khả năng suy giảm “nghe-nhìn” và vệ sinh cá nhân.