Tổng quan nghiên cứu

Rối loạn lipid máu là một trong những rối loạn chuyển hóa phổ biến nhất hiện nay, đóng vai trò căn nguyên trực tiếp trong cơ chế bệnh sinh của xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành và tai biến mạch máu não. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có khoảng 17 triệu ca tử vong do các bệnh lý tim mạch, phần lớn bắt nguồn từ biến chứng xơ vữa mạch máu do rối loạn chuyển hóa lipid kéo dài. Tại Việt Nam, kết quả điều tra dịch tễ học quốc gia ghi nhận tỷ lệ người trưởng thành tăng cholesterol toàn phần chiếm 30,2% và tỷ lệ thừa cân, béo phì đạt ngưỡng 15,6%.

Trong thực hành y học hiện đại, bên cạnh chỉ số LDL-C kinh điển, chỉ số non-HDL-C đang nổi lên như một dấu ấn sinh học vượt trội trong việc lượng giá toàn diện các hạt lipoprotein chứa apolipoprotein B có tiềm năng sinh xơ vữa. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh rằng với cùng một mức tăng 30 mg/dL, non-HDL-C làm tăng nguy cơ biến cố tim mạch lên 11%, cao hơn mức 8% của LDL-C. Dưới lăng kính Y học cổ truyền, rối loạn lipid máu thuộc phạm trù các chứng Đàm ẩm, Huyễn vựng, Đầu thống, Tâm quý, trong đó yếu tố "đàm trọc" giữ vai trò trung tâm của bệnh lý.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y học cổ truyền của tác giả Đinh Hồng Thuận, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lưu Minh Châu tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Mô tả đặc điểm lâm sàng theo Y học cổ truyền và xác định mối tương quan giữa chỉ số non-HDL-C cùng các thành phần lipid máu với các thể bệnh Y học cổ truyền trên 405 bệnh nhân rối loạn lipid máu ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương từ tháng 03/2019 đến tháng 09/2019. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi thiết lập cầu nối khoa học định lượng giữa các chỉ số sinh hóa hiện đại và biện chứng luận trị cổ truyền, nâng cao năng lực chẩn đoán và dự báo nguy cơ tim mạch cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên sự giao thoa học thuật chặt chẽ giữa chuyển hóa sinh hóa hiện đại và lý luận tạng phủ Y học cổ truyền. Về mặt Y học hiện đại, đề tài áp dụng mô hình chuyển hóa lipoprotein nội sinh và ngoại sinh theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Lipid Quốc gia Hoa Kỳ (NLA 2015) và Báo cáo lần thứ 3 của Ban cố vấn Chương trình Giáo dục Cholesterol Quốc gia Hoa Kỳ (NCEP ATP III 2001). Chỉ số non-HDL-C được xác định bằng công thức toán học: Cholesterol toàn phần trừ đi HDL-C, đại diện cho toàn bộ lượng cholesterol trong các hạt sinh xơ vữa bao gồm LDL, VLDL, IDL và Lipoprotein(a). Mức ngưỡng rối loạn của non-HDL-C được xác định khi đạt giá trị từ 4,1 mmol/L trở lên.

Về mặt Y học cổ truyền, khung lý thuyết dựa trên học thuyết Tân dịch và cơ chế bệnh sinh của chứng Đàm ẩm được đúc kết từ các tác phẩm kinh điển như Nội Kinh, Kim Quỹ Yếu Lược và Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh. Bệnh sinh đàm ẩm mang đặc tính "Bản hư tiêu thực", trong đó tiêu là đàm trọc ứ trệ, huyết ứ; bản là sự suy giảm công năng vận hóa thủy thấp của ba tạng Tỳ, Phế, Thận kết hợp can khí uất kết. Nghiên cứu phân loại hội chứng rối loạn lipid máu thành 5 thể lâm sàng đặc trưng:

  1. Thể Đàm trọc ứ trệ (hình thể béo bệu, đầu nặng như bó, ngực tức, rêu lưỡi trơn dính, mạch huyền hoạt).
  2. Thể Can thận âm hư (chóng mặt, ù tai, đau mỏi lưng gối, ngũ tâm phiền nhiệt, mạch tế sác).
  3. Thể Âm hư dương cang (đau đầu căng trướng, dễ cáu gắt, mặt đỏ miệng đắng, mạch huyền sác).
  4. Thể Tỳ thận dương hư (sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt mỏi vô lực, đại tiện lỏng nát, mạch trầm tế).
  5. Thể Khí trệ huyết ứ (ngực sườn trướng tức, đau nhói vùng trước tim, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch sáp).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích. Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% và tỷ lệ dự kiến p = 0,12 dựa trên số liệu lưu trữ tại bệnh viện. Cỡ mẫu lý thuyết tính được là 253 bệnh nhân; để nâng cao độ tin cậy và hạn chế sai số chọn mẫu, nghiên cứu đã mở rộng thu thập toàn bộ trên 405 bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn.

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân trên 18 tuổi điều trị ngoại trú tại Phòng khám Nội tiết, Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương trong khoảng thời gian từ tháng 03/2019 đến tháng 09/2019. Bệnh nhân được chẩn đoán xác định rối loạn lipid máu theo tiêu chuẩn NCEP ATP III (2001) khi có ít nhất một trong các tiêu chí: Cholesterol toàn phần ≥ 6,20 mmol/L, Triglycerid ≥ 2,26 mmol/L, LDL-C ≥ 4,12 mmol/L hoặc HDL-C < 1,03 mmol/L. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm các trường hợp rối loạn lipid thứ phát do thuốc (corticoid, estrogen, chẹn beta), bệnh nhân suy gan, suy thận nặng, hội chứng thận hư, suy giáp và phụ nữ mang thai.

Quy trình thu thập số liệu kết hợp khám lâm sàng toàn diện theo phương pháp Tứ chẩn (Vọng, Văn, Vấn, Thiết) sử dụng bộ phiếu phỏng vấn bán cấu trúc chuẩn hóa, cùng với định lượng bilan lipid máu tĩnh mạch lúc đói trên hệ thống máy xét nghiệm sinh hóa tự động AU 5800 hiện đại xuất xứ từ Hoa Kỳ. Toàn bộ dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng được quản lý, làm sạch và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0, áp dụng các thuật toán kiểm định Chi-square, t-test và tỷ suất chênh OR với khoảng tin cậy 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu dịch tễ trên 405 bệnh nhân ghi nhận độ tuổi trung bình là 65,73 ± 10,38 tuổi (dao động từ 22 đến 91 tuổi), trong đó nhóm người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ áp đảo 74,8% (303 bệnh nhân), nhóm 50 đến dưới 60 tuổi chiếm 18,0%, và nhóm dưới 30 tuổi chỉ chiếm 0,2%. Về phân bố giới tính, nam giới chiếm 52,0% và nữ giới chiếm 48,0% (tỷ lệ nam/nữ đạt 1,08). Nhóm hưu trí chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu nghề nghiệp với 54,3%, tiếp theo là lao động tự do chiếm 29,1%. Về tiền sử bệnh lý đi kèm, có tới 83,5% bệnh nhân đồng mắc tăng huyết áp, 17,8% có tiền sử gia đình mắc rối loạn lipid máu, 9,1% mắc bệnh mạch vành và 3,5% có tiền sử bệnh mạch máu não.

Về đặc điểm thể trạng và cận lâm sàng, chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình của quần thể nghiên cứu là 22,88 ± 2,16 kg/m2; trong đó nhóm thừa cân béo phì (BMI ≥ 23) chiếm 48,4% và nhóm có thể trạng bình thường chiếm 48,6%. Phân tích các thông số lipid máu cho thấy tình trạng giảm HDL-C (< 1,03 mmol/L) là dạng rối loạn phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 66,2%. Tỷ lệ tăng LDL-C (≥ 4,12 mmol/L) chiếm 57,8%, tăng Triglycerid (≥ 2,26 mmol/L) chiếm 49,1% và tăng Cholesterol toàn phần (≥ 6,20 mmol/L) chiếm 29,6%. Tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn chỉ số non-HDL-C (≥ 4,1 mmol/L) chiếm 26,9% toàn bộ mẫu nghiên cứu.

Trong phân loại thể bệnh theo Y học cổ truyền, thể Đàm trọc ứ trệ chiếm tỷ lệ cao nhất với 24,0% (97 bệnh nhân), tiếp đến là thể Can thận âm hư chiếm 19,5% (79 bệnh nhân), thể Âm hư dương cang chiếm 17,5% (71 bệnh nhân), thể Tỳ thận dương hư chiếm 14,8% (60 bệnh nhân), và thể Khí trệ huyết ứ chiếm tỷ lệ thấp nhất là 7,4% (30 bệnh nhân). Nhóm bệnh nhân có triệu chứng đan xen chưa phân thể rõ ràng chiếm 16,8%.

Về các triệu chứng Tứ chẩn đặc trưng, triệu chứng mất ngủ xuất hiện ở 46,0% bệnh nhân, chóng mặt chiếm 39,1%, lưỡi bệu chiếm 33,3%, tâm quý chiếm 31,3%, ăn ít chiếm 29,2%, chất lưỡi đỏ và rêu lưỡi trơn dính cùng chiếm tỷ lệ 24,8%. Về mạch chẩn, mạch huyền hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất với 18,1%, mạch tế sác chiếm 14,7% và mạch huyền chiếm 13,2%.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích mối tương quan giữa chỉ số sinh hóa và các thể bệnh Y học cổ truyền, nghiên cứu phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số BMI giữa các thể bệnh (p < 0,05). Thể Đàm trọc ứ trệ có mức BMI trung bình cao nhất đạt 24,83 ± 1,69 kg/m2, thể hiện sự phù hợp hoàn hảo giữa biểu hiện hình thể béo bệu, trệ tích đàm thấp trong y văn cổ với tình trạng tích tụ mô mỡ thực tế. Ngược lại, thể Can thận âm hư có chỉ số BMI trung bình thấp nhất, chỉ đạt 20,93 ± 1,93 kg/m2, phản ánh tình trạng âm dịch suy hao, thể trạng gầy khô.

Về mức độ phức tạp của rối loạn chuyển hóa, thể Tỳ thận dương hư có số lượng chỉ số lipid máu bị rối loạn trung bình cao nhất với 3,13 ± 1,23 chỉ số, tiếp sau là thể Đàm trọc ứ trệ với 3,09 ± 1,00 chỉ số. Thể Âm hư dương cang có mức độ rối loạn lipid máu đơn giản nhất với trung bình 1,56 ± 1,22 chỉ số (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05). Điều này minh chứng rằng khi cả hai tạng Tỳ và Thận đều suy yếu về mặt dương khí, quá trình khí hóa và vận hóa tân dịch bị đình trệ toàn diện, dẫn đến sự rối loạn đồng thời của nhiều phân đoạn lipoprotein.

Phân tích mối liên quan giữa non-HDL-C và các thông số cận lâm sàng khẳng định: Bệnh nhân có nồng độ Cholesterol toàn phần ≥ 6,2 mmol/L có nguy cơ tăng chỉ số non-HDL-C cao gấp 7,76 lần so với nhóm có Cholesterol < 6,2 mmol/L (OR = 7,76; 95%CI: 2,001 - 3,046; p < 0,05). Đáng chú ý, trong nhóm bệnh nhân có Cholesterol toàn phần ở mức bình thường (< 6,2 mmol/L), vẫn có tới 39,2% trường hợp có chỉ số non-HDL-C tăng cao. Kết quả này chứng minh nếu chỉ dựa vào xét nghiệm cholesterol toàn phần đơn thuần, thầy thuốc lâm sàng có thể bỏ sót gần 40% bệnh nhân có nguy cơ xơ vữa động mạch tiềm ẩn.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa quy trình chẩn đoán kết hợp định lượng non-HDL-C tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh: Ban Giám đốc và Khoa Xét nghiệm các bệnh viện cần tích hợp chỉ số non-HDL-C vào bảng kết quả xét nghiệm bilan lipid tự động trong vòng 3 tháng tới. Việc này nhằm mục tiêu phát hiện sớm ít nhất 35% nguy cơ xơ vữa tim mạch tiềm ẩn ở những bệnh nhân có chỉ số cholesterol toàn phần chưa vượt ngưỡng báo động.

  2. Áp dụng phác đồ điều trị cá thể hóa Đông - Tây y kết hợp theo thể bệnh: Các bác sĩ chuyên khoa Y học cổ truyền cần chủ động xây dựng và triển khai phác đồ điều trị phân tầng trong thời gian 6 tháng tới. Đối với bệnh nhân thể Đàm trọc ứ trệ (chiếm 24,0%) và Tỳ thận dương hư (chiếm 14,8%), cần ưu tiên các bài thuốc kiện tỳ hóa đàm, ôn bổ tỳ thận (như Nhị trần thang gia giảm, Thận khí hoàn) kết hợp thuốc hạ lipid máu nhóm statin để đưa tỷ lệ kiểm soát đa mục tiêu lipid máu đạt trên 70%.

  3. Thiết lập mô hình quản lý đồng bộ bệnh nhân rối loạn lipid máu và tăng huyết áp: Khoa Khám bệnh phối hợp với Phòng Chỉ đạo tuyến triển khai chương trình quản lý ngoại trú lồng ghép trong lộ trình 12 tháng. Mục tiêu kiểm soát đồng thời huyết áp dưới 130/80 mmHg và chỉ số non-HDL-C dưới 3,4 mmol/L cho 83,5% bệnh nhân có bệnh lý nền tăng huyết áp, giúp giảm tỷ lệ biến cố mạch vành và đột quỵ não xuống dưới 5% mỗi năm.

  4. Tuyên truyền can thiệp lối sống và điều chỉnh chế độ dinh dưỡng dưỡng sinh: Tổ Truyền thông giáo dục sức khỏe phối hợp cùng các bác sĩ dinh dưỡng xây dựng cẩm nang vận động và ẩm thực trị liệu cho nhóm người cao tuổi hưu trí (chiếm 54,3% bệnh nhân). Phấn đấu trong 6 tháng giúp nhóm bệnh nhân thừa cân béo phì kiểm soát chỉ số BMI giảm từ mức trung bình 24,83 kg/m2 về ngưỡng an toàn dưới 23,0 kg/m2.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Bác sĩ chuyên khoa Y học cổ truyền và Bác sĩ Đa khoa: Nắm vững bức tranh dịch tễ học lâm sàng và các dấu chứng Tứ chẩn đặc trưng (lưỡi bệu 33,3%, rêu trơn dính 24,8%, mạch huyền hoạt 18,1%) để nhận diện chính xác 5 thể bệnh lâm sàng, từ đó kê đơn phối ngũ bài thuốc y học cổ truyền chuẩn xác cho từng người bệnh.

  2. Bác sĩ Tim mạch và Nội tiết - Chuyển hóa: Tiếp cận cơ sở dữ liệu thực chứng về chỉ số non-HDL-C và nguy cơ xơ vữa tồn dư, đặc biệt là mối liên hệ giữa tình trạng giảm HDL-C (chiếm 66,2%) và tăng LDL-C (chiếm 57,8%), hỗ trợ tối ưu hóa việc lựa chọn nhóm thuốc hạ lipid máu và phòng ngừa biến cố mạch vành nguyên phát.

  3. Học viên cao học, Bác sĩ nội trú và Nghiên cứu sinh Y Dược: Tham khảo một mô hình thiết kế nghiên cứu kết hợp Đông - Tây y mẫu mực với phương pháp chọn mẫu chuẩn quy chuẩn, bộ công cụ phỏng vấn Tứ chẩn bán cấu trúc và phương pháp phân tích thống kê y sinh học xử lý trên cỡ mẫu 405 bệnh nhân.

  4. Nhà quản lý y tế và Cán bộ hoạch định chính sách y tế cơ sở: Sử dụng các số liệu thực tế về mô hình bệnh tật ở người cao tuổi (74,8% trên 60 tuổi) và tỷ lệ đồng mắc tăng huyết áp (83,5%) để lập kế hoạch phân bổ nguồn lực thuốc thiết yếu, máy móc xét nghiệm sinh hóa và đào tạo nhân lực y học cổ truyền tại tuyến y tế cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ số non-HDL-C có ưu điểm gì vượt trội so với LDL-C trong đánh giá rối loạn lipid máu?

Chỉ số non-HDL-C phản ánh toàn bộ lượng cholesterol nằm trong các hạt lipoprotein gây xơ vữa chứa apolipoprotein B, bao gồm cả VLDL tàn dư và IDL. Nghiên cứu thực tế cho thấy ngay cả khi cholesterol toàn phần bình thường, vẫn có 39,2% bệnh nhân tăng non-HDL-C. Chỉ số này dự báo nguy cơ tim mạch chính xác hơn LDL-C, đặc biệt ở bệnh nhân có tăng triglycerid đi kèm.

2. Thể bệnh Y học cổ truyền nào chiếm tỷ lệ cao nhất ở bệnh nhân rối loạn lipid máu?

Thể Đàm trọc ứ trệ chiếm tỷ lệ cao nhất với 24,0% trong tổng số 405 bệnh nhân nghiên cứu. Biểu hiện lâm sàng nổi bật của thể này gồm hình thể béo bệu (chỉ số BMI trung bình đạt mức cao nhất là 24,83 kg/m2), ngực bụng bí tức, đầu nặng như bó, lưỡi bệu có dấu ấn răng, rêu lưỡi trơn dính và mạch huyền hoạt.

3. Mối liên quan giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) và các thể bệnh Y học cổ truyền được ghi nhận như thế nào?

Chỉ số BMI có sự phân hóa rõ rệt giữa các thể bệnh (p < 0,05). Thể Đàm trọc ứ trệ có BMI trung bình cao nhất đạt 24,83 ± 1,69 kg/m2, thuộc nhóm thừa cân béo phì. Trong khi đó, thể Can thận âm hư có chỉ số BMI trung bình thấp nhất, chỉ đạt 20,93 ± 1,93 kg/m2, phản ánh tình trạng hao tổn âm dịch và thể trạng gầy.

4. Thể bệnh nào có mức độ rối loạn đa thành phần lipid máu nghiêm trọng nhất?

Thể Tỳ thận dương hư có số lượng chỉ số lipid máu bị rối loạn trung bình cao nhất với 3,13 ± 1,23 chỉ số, theo sát là thể Đàm trọc ứ trệ với 3,09 ± 1,00 chỉ số. Điều này phản ánh tình trạng dương khí của tỳ và thận đều suy giảm nghiêm trọng, khiến quá trình chuyển hóa tân dịch bị đình trệ đa tầng, gây rối loạn lan tỏa toàn bộ bilan lipid.

5. Tỷ lệ đồng mắc tăng huyết áp ở bệnh nhân rối loạn lipid máu trong nghiên cứu là bao nhiêu?

Nghiên cứu ghi nhận có tới 83,5% bệnh nhân rối loạn lipid máu đồng mắc bệnh lý tăng huyết áp. Mối liên hệ mật thiết này khẳng định sự cộng hưởng nguy hiểm giữa tổn thương nội mạc mạch máu do tăng áp lực dòng chảy và sự lắng đọng mảng xơ vữa của các hạt lipid, đòi hỏi chiến lược điều trị phối hợp kiểm soát đồng thời cả hai yếu tố.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã xác lập cơ sở dữ liệu lâm sàng toàn diện trên 405 bệnh nhân rối loạn lipid máu ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương, ghi nhận độ tuổi trung bình 65,73 tuổi, tỷ lệ nam giới chiếm 52,0% và tỷ lệ đồng mắc tăng huyết áp lên tới 83,5%.
  • Tỷ lệ rối loạn từng thành phần lipid máu cho thấy giảm HDL-C chiếm ưu thế cao nhất với 66,2%, tăng LDL-C chiếm 57,8%, tăng triglycerid chiếm 49,1%, tăng cholesterol toàn phần chiếm 29,6% và tỷ lệ tăng chỉ số non-HDL-C đạt 26,9%.
  • Phân loại Y học cổ truyền xác định thể Đàm trọc ứ trệ chiếm tỷ lệ cao nhất (24,0%), tiếp theo là Can thận âm hư (19,5%), Âm hư dương cang (17,5%), Tỳ thận dương hư (14,8%) và Khí trệ huyết ứ (7,4%).
  • Chứng minh mối tương quan khoa học giữa chỉ số BMI cao nhất ở thể Đàm trọc ứ trệ (24,83 kg/m2), số lượng chỉ số lipid rối loạn nhiều nhất ở thể Tỳ thận dương hư (3,13 chỉ số), và nguy cơ tăng non-HDL-C cao gấp 7,76 lần khi tăng cholesterol toàn phần.
  • Luận văn đóng góp một bằng chứng thực nghiệm giá trị vào kho tàng y học kết hợp, mở ra hướng ứng dụng chỉ số sinh hóa non-HDL-C trong việc hỗ trợ chẩn đoán phân thể và lượng hóa hiệu quả điều trị của Y học cổ truyền.

Trong kế hoạch triển khai từ Quý I đến Quý IV giai đoạn tới, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm trên cỡ mẫu từ 1.000 bệnh nhân trở lên nhằm đánh giá hiệu quả can thiệp của các bài thuốc cổ phương đặc trị theo từng thể bệnh đối với sự thay đổi của nồng độ non-HDL-C. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và đồng nghiệp y khoa quan tâm đến việc ứng dụng mô hình chẩn trị kết hợp Đông - Tây y có thể tra cứu toàn văn luận văn tại Thư viện Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam để khai thác trọn vẹn giá trị học thuật của công trình.