ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, còn được gọi là COPD - Chronic Obstructive Pulmonary Disease) là bệnh hô hấp phổ biến có thể phòng và điều trị được. Bệnh đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp dai dẳng và giới hạn luồng khí, là hậu quả của những bất thường của đường thở và/hoặc phế nang thường do phơi nhiễm với các phân tử hoặc khí độc hại, trong đó khói thuốc lá, thuốc lào là yếu tố nguy cơ chính, ô nhiễm không khí và khói chất đốt cũng là yếu tố nguy cơ quan trọng gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [10]. Trên toàn cầu, ước tính có 251 triệu ca mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong năm 2016, chiếm khoảng 12% dân số từ 40 tuổi trở lên. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gây ra 3,2 triệu ca tử vong mỗi năm (tức là khoảng 5% tổng số ca tử vong trên toàn cầu mỗi năm).
Tại Việt Nam, các ca bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chiếm tỷ lệ 7,1% ở nam và 1,9% ở nữ từ 40 tuổi trở lên [11]. Điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải có sự điều trị nội trú và ngoại trú lâu dài, do đó, việc chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị cho người bệnh. Công tác chăm sóc điều dưỡng đối với người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cần được lưu tâm ngay từ khi mới được chẩn đoán nhằm đảm bảo người bệnh điều trị đủ phác đồ, phòng ngừa các biến chứng và giảm nhẹ các tác dụng phụ của quá trình điều trị, giảm chi phí và thời gian nằm viện và nâng cao chất lượng điều trị. Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá về kết quả chăm sóc người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp tại Việt Nam.
Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Kết quả chăm sóc người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2020” với hai mục tiêu: 2 1. Mô tả lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp tại Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai 2. Phân tích kết quả chăm sóc người bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính đợt cấp và một số yếu tố liên quan Thang Long University Library 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1.
Sơ lược về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD đã được biết đến từ rất lâu và được hiểu rõ hơn về cả cơ chế sinh bệnh học vào cuối thế kỷ XX. Đồng thời các nghiên cứu về COPD được phát triển mạnh mẽ. Năm 1966, thuật ngữ “Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” lần đầu tiên được sử dụng để mô tả tình trạng tắc nghẽn đường thở không hồi phục hoàn toàn. Thuật ngữ COPD đã dần dần thay thế cho cụm từ “Viêm phế quản phổi” và “Khí phế thũng”.
Trong hội nghị lần thứ 10-1992 của Tổ chức Y tế thế giới bàn về sửa đổi phân loại bệnh tật đã nhất trí dùng thuật ngữ COPD trong chẩn đoán và thống kê bệnh tật. Năm 1995, Hội lồng ngực Hoa Kỳ (ATS), Hội Hô hấp châu Âu (ERS), các Hội lồng ngực khác đồng loạt đưa ra các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COPD. Năm 1997, Viện huyết học, Tim mạch, Hô hấp Hoa Kỳ (NHLBI) phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới đề ra chương trình khởi động toàn cầu về COPD viết tắt là GOLD (Global Initative for Chronic Obstructive Pulmonary Disease). Năm 2003, GOLD đã đưa ra bản cập nhật hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COPD, từ đó đến nay hàng năm GOLD luôn đưa ra các bản cập nhật mới dựa vào các chứng thực trên lâm sàng [1].
Định nghĩa về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Năm 2015, GOLD đưa ra định nghĩa COPD là bệnh lý hô hấp mạn tính có thể dự phòng và điều trị được. Bệnh đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không có khả năng hồi phục hoàn toàn, sự cản trở thông khí này thường tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi với các hạt bụi hoặc khí độc hại mà trong đó khói thuốc lá, thuốc lào đóng vai trò quan trọng hàng đầu [1]. Đến năm 2018, GOLD đã chỉnh sửa về định nghĩa COPD là một bệnh lý hô hấp mạn tính có thể điều trị và dự phòng được. Bệnh đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp dai dẳng và giới hạn luồng không khí là hậu quả của phản ứng viêm bất thường của đường thở và/hoặc phế nang do phơi nhiễm với các hạt hoặc khí độc hại mà trong đó khói thuốc lá, thuốc lào là yếu tố nguy cơ chính, tuy nhiên ô nhiễm không khí và khói 4 chất đốt cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh COPD quan trọng.
Các bệnh đồng mắc và các đợt kịch phát làm nặng thêm tình trạng bệnh [1]. Dựa vào mức độ triệu chứng và nguy cơ đợt cấp, GOLD phân người mắc COPD thành bốn nhóm [1]. - Người bệnh thuộc nhóm (A) - Nguy cơ thấp, ít triệu chứng: có 0 - 1 đợt cấp trong vòng 12 tháng qua (đợt cấp không nhập viện và không sử dụng kháng sinh, corticosteroid) và mMRC 0 - 1 hoặc CAT < 10. - Người bệnh thuộc nhóm (B) - Nguy cơ thấp, nhiều triệu chứng: có 0 - 1 đợt cấp trong vòng 12 tháng (đợt cấp không nhập viện và không sử dụng kháng sinh, corticosteroid) và mMRC ≥ 2 hoặc điểm CAT ≥ 10.
- Người bệnh thuộc nhóm (C) - Nguy cơ cao, ít triệu chứng: có ≥ 2 đợt cấp trong vòng 12 tháng (hoặc 1 đợt cấp nặng phải nhập viện hoặc phải đặt nội khí quản) và mMRC 0 - 1 hoặc điểm CAT < 10. - Người bệnh thuộc nhóm (D) - Nguy cơ cao, nhiều triệu chứng: có ≥ 2 đợt cấp trong vòng 12 tháng (hoặc 1 đợt cấp nặng phải nhập viện hoặc phải đặt nội khí quản) và mMRC ≥ 2 trở lên (theo phân loại mMRC) hoặc điểm CAT ≥ 10. Anthonisen và cộng sự (1987) [2] dựa vào 3 triệu chứng lâm sàng chủ yếu để phân COPD thành 3 loại: - Anthronisen I (nặng): có đầy đủ cả 3 triệu chứng (khó thở tăng, tăng lượng đờm, tăng đờm mủ). - Anthronisen II (trung bình): có 2/3 triệu chứng.
- Anthronisen III (nhẹ): có 1 triệu chứng, kèm thêm một trong các dấu hiệu sau: Các triệu chứng nhiễm trùng hô hấp trên trong vòng 5 ngày trước đó; sốt không do nguyên nhân khác; tăng ho hoặc khò khè; tăng nhịp tim hay nhịp thở 20% so với trạng thái bình thường. Chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1. Chẩn đoán định hướng áp dụng tại tuyến chưa được trang bị máy đo chức năng thông khí Khai thác kỹ tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây bệnh, thăm khám lâm sàng để tìm các dấu hiệu định hướng chẩn đoán [10]: - Bệnh hay gặp ở nam giới trên 40 tuổi. Thang Long University Library 5 - Tiền sử: hút thuốc lá, thuốc lào (bao gồm cả hút thuốc chủ động và thụ động).
Ô nhiễm môi trường trong và ngoài nhà: khói bếp, khói, chất đốt, bụi nghề nghiệp (bụi hữu cơ, vô cơ), hơi, khí độc. Nhiễm khuẩn hô hấp tái diễn, lao phổi. Tăng tính phản ứng đường thở (hen phế quản hoặc viêm phế quản co thắt). - Ho, khạc đờm kéo dài không do các bệnh phổi khác như lao phổi, giãn phế quản.: là triệu chứng thường gặp.
Lúc đầu có thể chỉ có ho ngắt quãng, sau đó ho dai dẳng hoặc ho hàng ngày (ho kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và trong 2 năm liên tiếp), ho khan hoặc ho có đờm, thường khạc đờm về buổi sáng. Ho đờm mủ là một trong các dấu hiệu của đợt cấp do bội nhiễm. - Khó thở: tiến triển nặng dần theo thời gian, lúc đầu chỉ có khó thở khi gắng sức, sau đó khó thở cả khi nghỉ ngơi và khó thở liên tục. Bệnh nhân “phải gắng sức để thở”, “khó thở, nặng ngực”, “cảm giác thiếu không khí, hụt hơi” hoặc “thở hổn hển”, thở khò khè.
Khó thở tăng lên khi gắng sức hoặc nhiễm trùng đường hô hấp. - Các triệu chứng ho khạc đờm, khó thở dai dẳng và tiến triển nặng dần theo thời gian. - Khám lâm sàng: + Giai đoạn sớm của bệnh khám phổi có thể bình thường. Cần đo chức năng thông khí (CNTK) ở những đối tượng có yếu tố nguy cơ và có triệu chứng cơ năng gợi ý (ngay cả khi thăm khám bình thường) để chẩn đoán sớm COPD.
Nếu bệnh nhân có khí phế thũng có thể thấy lồng ngực hình thùng, gõ vang, rì rào phế nang giảm. + Giai đoạn nặng hơn khám phổi thấy rì rào phế nang giảm, có thể có ran rít, ran ngáy, ran ẩm, ran nổ. + Giai đoạn muộn có thể thấy những biểu hiện của suy hô hấp mạn tính: tím môi, tím đầu chi, thở nhanh, co kéo cơ hô hấp phụ, biểu hiện của suy tim phải (tĩnh mạch cổ nổi, phù 2 chân, gan to, phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính). Khi phát hiện bệnh nhân có các triệu chứng nghi ngờ COPD như trên cần chuyển bệnh nhân đến các cơ sở y tế có đủ điều kiện (tuyến huyện, tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương…) để làm thêm các thăm dò chẩn đoán: đo CNTK, chụp X-quang phổi, điện tim.
nhằm chẩn đoán xác định và loại trừ những nguyên nhân khác có triệu chứng lâm sàng giống COPD. Bảng câu hỏi tầm soát COPD ở cộng đồng (theo GOLD) TT Câu hỏi Chọn câu trả lời 1. Ông/bà có ho vài lần trong ngày ở hầu hết các ngày Có Không 2. Ông/bà có khạc đờm ở hầu hết các ngày Có Không 3.
Ông/bà có dễ bị khó thở hơn những người cùng tuổi Có Không 4. Ông/bà có trên 40 tuổi Có Không 5. Ông/bà vẫn còn hút thuốc lá hoặc đã từng hút thuốc lá Có Không Nếu bạn trả lời có từ 3 câu trở lên. Hãy đến gặp bác sĩ ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Chẩn đoán xác định áp dụng cho cơ sở y tế đã được trang bị máy đo CNTK Những bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ, có các dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ mắc COPD như đã mô tả ở trên cần được làm các xét nghiệm sau [1]: - Đo CNTK phổi: kết quả đo CNTK phổi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở của bệnh nhân COPD. - Một số điểm cần lưu ý: + Cần trang bị máy đo CNTK đảm bảo đủ tiêu chuẩn (xem phụ lục về tiêu chuẩn phòng quản lý) và phải được định chuẩn hằng ngày.