Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm chung 1.1 Khái niệm về giao tiếp Giao tiếp là quá trình mọi người trao đổi thông tin, cảm xúc và ý nghĩa thông qua các thông điệp bằng lời nói và không bằng lời nói (giọng nói, nét mặt, cử chỉ và ngôn ngữ cơ thể…). Vì vậy, đây là một quá trình hai chiều, khi bạn giao tiếp phải có người nhận thì giao tiếp của bạn mới được hoàn thành[43]. Do đó, giao tiếp là một quá trình truyền và nhận thông điệp bằng lời nói và không bằng lời nói. Nó chỉ được coi là hiệu quả khi nó đạt được phản ứng từ người nhận.
Phản ứng có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Trong trường hợp không có bất kỳ phản hồi, giao tiếp là không đầy đủ. Giao tiếp chỉ có hiệu quả khi một thông điệp ngắn gọn và rõ ràng được truyền tải tốt, được nhận thành công, hiểu đầy đủ và được phản hồi kịp thời [43]. Trong giao tiếp, con người cần làm thế nào để hiểu được ngôn ngữ, hành vi, ý nghĩ của người có quan hệ giao tiếp với mình, đánh giá được thái độ, quan điểm, mục đích của người giao tiếp để đưa ra các hành động giao tiếp hiệu quả, được xã hội chấp nhận [31].
Phản hồi Ý nghĩ =>Mã hóa Thông điệp Tiếp nhận => Giải mã Người phát Kênh truyền Người nhận KK Nhiễu Hình 1.1: Giao tiếp là quá trình truyền tải thông tin Ngày nay, chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào việc chia sẻ thông tin, dẫn đến sự chú trọng nhiều hơn vào việc có kỹ năng giao tiếp tốt. Kỹ năng giao tiếp tốt để cung cấp và hiểu thông tin một cách nhanh chóng, chính xác. Kỹ năng giao tiếp kém có thể có tác động tiêu cực dẫn đến sự hiểu lầm, thất vọng một số trường hợp gây xung đột. Thang Long University Library 4 Có 2 loại hình giao tiếp: Giao tiếp bằng lời: là việc sử dụng ngôn ngữ để truyền thông tin thông qua ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết.
Đây là một trong những loại giao tiếp phổ biến nhất giúp truyền tải thông điệp của người nói đến một hoặc nhiều người nhận. Nó bao gồm âm thanh từ một âm tiết đơn giản đến cuộc thảo luận phức tạp và dựa vào cả ngôn ngữ và cảm xúc để tạo ra hiệu ứng mong muốn. Giao tiếp không lời: là việc sử dụng ngôn ngữ cơ thể, cử chỉ và nét mặt để truyền đạt thông tin cho người khác. Nó có thể được sử dụng cả cố ý và vô ý.
Ví dụ, bạn có thể mỉm cười vô tình khi bạn nghe một ý tưởng hay một thông tin thú vị. Giao tiếp phi ngôn ngữ rất hữu ích khi cố gắng hiểu suy nghĩ và cảm xúc của người khác [43]. Trong một số trường hợp, chúng ta giao tiếp bằng cách nói về ý tưởng, suy nghĩ hoặc cảm xúc của mình; vào những lúc khác, chúng tôi có thể muốn giao tiếp thông qua văn bản hoặc thậm chí không bằng lời nói. Dù chúng ta chọn hình thức nào, việc truyền tải thông điệp là tất cả những gì về giao tiếp.
Các kỹ năng giao tiếp không lời cần phải được sử dụng thường xuyên và kết hợp linh hoạt với giao tiếp có lời để tăng hiệu quả tối đa cho quá trình giao tiếp. Trong cuộc sống cá nhân, chúng ta cần giao tiếp để đối phó với những mối quan tâm và vấn đề khác nhau của cuộc sống hàng ngày. Trong công việc cũng vậy, chính giao tiếp giúp chúng ta xây dựng mối quan hệ lành mạnh và uy tín với đồng nghiệp. Giao tiếp là một quá trình năng động, liên tục và không thể đảo ngược nhưng đồng thời, nó có tính chất đối ứng, đó là một quá trình đang diễn ra.
Giao tiếp luôn là một phần quan trọng trong cuộc sống của con người, nhu cầu giao tiếp vốn có trong bản chất con người đến nỗi chúng ta khó nhận ra rằng các kỹ năng giao tiếp hiệu quả có thể có được và mài giũa. Mục tiêu chính của giao tiếp là truyền đạt hoặc chia sẻ thông tin. Chúng ta phải tiếp nhận với một lượng lớn thông tin hàng ngày và đa dạng để thực hiện các hoạt động khác nhau. Do đó, luồng thông tin thích hợp sẽ giúp chúng ta đưa 5 ra một quyết định đúng đắn.
Một mục tiêu khác không kém phần quan trọng của giao tiếp là thuyết phục mọi người chấp nhận quan điểm hoặc thay đổi thái độ và chấp nhận một thái độ mới sửa đổi. Sự thuyết phục đạt được thông qua các lập luận logic và một sự tự tin của người nói để người nghe có thể chấp nhận và thay đổi. Về cơ bản, tất cả các giao tiếp là một hành động thuyết phục có chủ ý. Giao tiếp giúp con người thỏa mãn nhiều nhu cầu khác nhau như: nhu cầu thông tin, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được quan tâm, nhu cầu được hòa nhập với những nhóm xã hội nhất định… Trong quá trình giao tiếp, con người có thể điều chỉnh, điều khiển hành vi của mình cho phù hợp với các chuẩn mực xã hội, phát huy những mặt ưu điểm và hạn chế những mặt khiếm khuyết của bản thân [31].2 Giao tiếp trong y tế Giao tiếp trong y tế chứa nhiều đối tượng giao tiếp với nhau trong môi trường ngành y như: thầy thuốc với NB, thầy thuốc với người nhà NB, giữa các NVYT với nhau nhưng giao tiếp với NB là một trong những nội dung mà các thầy thuốc cần quan tâm hàng đầu trong công tác khám chữa bệnh.
Ngoài việc được CSSK bằng các dịch vụ y tế thì NB cũng rất cần sự cảm thông, chia sẻ về tâm lí từ các y bác sĩ. Đó chính là văn hóa và là kỹ năng giao tiếp của ngành y. Trong bệnh viện, mỗi y bác sỹ sẽ có một cách giao tiếp, ứng xử riêng khi giao tiếp với NB. Giao tiếp tốt giúp thu thập thông tin về tình trạng của NB chính xác hơn, phù hợp hơn, có sự thông hiểu lẫn nhau, điều đó giúp thầy thuốc chẩn đoán chính xác hơn, phát hiện được các vấn đề về cảm xúc của NB, giúp NB giảm bớt lo âu về các vấn đề liên quan tới bệnh tật, ít có phàn nàn về những sơ xuất trong quá trình chữa bệnh, NB tuân thủ điều trị tốt hơn [16].
NB và người nhà NB khi vào viện luôn mang tâm trạng lo âu, buồn bã, chán nản hoặc bất lực. nên đòi hỏi CBYT ngoài việc phải có trình độ về chuyên môn còn cần phải có kỹ năng, có nghệ thuật giao tiếp, ứng xử. Ngày nay giao tiếp là một trong ba yếu tố làm tăng hiệu quả của việc chăm sóc và điều trị. NB vào viện không chỉ có nhu cầu được CSSK bằng các dịch vụ y tế (sử dụng thuốc, hóa chất, các kỹ thuật y tế chuyên sâu,…) mà còn có nhu cầu được chăm sóc bằng tâm lý, thể hiện qua cách thức giao tiếp của CBYT với NB.
Thang Long University Library 6 Giao tiếp cũng đóng một vai trò quan trọng trong công tác chuyên môn của ĐD. Các hình thức giao tiếp giữa ĐD và NB bao gồm giao tiếp bằng lời nói và không lời (nét mặt, cử chỉ…). Thiết lập giao tiếp hiệu quả với NB là một khía cạnh thiết yếu của chăm sóc ĐD. Các ĐD thông qua các kỹ năng giao tiếp, có thể nhận ra nhu cầu CSSK của NB.
Giao tiếp hiệu quả có thể cải thiện chất lượng chăm sóc, kết quả lâm sàng và giúp nâng cao sự hài lòng của NB. Tuy nhiên, giao tiếp giữa ĐD và NB hiệu quả là thách thức lớn đối với các ĐD và đòi hỏi người ĐD phải có kinh nghiệm. Trên thực tế, mối quan hệ giữa ĐD và NB tích cực bao gồm nhiều hành vi trong nhiều lĩnh vực thực hành ĐD và đó là một yếu tố thiết yếu trong chăm sóc ĐD chất lượng cao. Do đó, việc nâng cao vai trò giao tiếp của ĐD là điều cần thiết trong công tác CSSK giai đoạn hiện nay.3 Vai trò của điều dưỡng trong bệnh viện ĐD là lực lượng chiếm phần lớn trong bệnh viện và giữ vai trò nồng cốt trong hệ thống CSSK của người dân.
Công việc của ĐD là CSNB, theo dõi và đánh giá NB, lập kế hoạch chăm sóc và thực hiện chăm sóc giúp NB mau chóng khỏi bệnh và hồi phục sức khỏe. Giáo dục sức khỏe còn là một nhiệm vụ quan trọng khác của người ĐD, giúp NB thiết lập những suy nghĩ và hành vi có lợi cho sức khỏe trong quá trình nằm viện và sau khi xuất viện. Ngày nay, con người có xu hướng chú trọng nhiều tới việc nâng cao và duy trì sức khỏe hơn là chỉ chữa bệnh thuần túy. Vì vậy, NB cần có thêm kiến thức để tự theo dõi và CSSK nhằm rút ngắn ngày nằm viện.
Do tính chất công việc mà người ĐD cần phải thường xuyên giao tiếp với người bệnh bằng lời nói động viên và những cử chỉ, hành động quan tâm, chia sẻ với NB [32]. Vì vậy, người ĐD ngoài việc có chuyên môn tốt còn cần phải có khả năng giao tiếp tốt để tạo thiện cảm đối với những NB và người nhà NB. Nếu kết hợp kỹ năng giao tiếp tốt với trình độ chuyên môn cao, NB sẽ không chỉ dành thiện cảm mà còn dành cho cơ sở y tế sự tin cậy. Ngày nay, thu nhập của người dân ngày càng tăng lên, nhu cầu về CSSK của người dân ngày càng cao, người dân đòi hỏi các dịch vụ y tế tốt hơn, an toàn hơn.
Kỹ năng giao tiếp tốt của ĐD sẽ góp phần tạo thiện cảm ấn tượng tốt với NB và người nhà NB và họ sẽ quay trở lại bệnh viện nếu chẳng may mắc bệnh. Ngược lại, nếu giao tiếp không phù hợp sẽ làm mất cảm tình, gây cho người bệnh sự bực bội, bất hợp tác, gây ấn tượng không tốt, làm mất uy tín và thương hiệu của cơ 7 quan và họ sẽ tiếp tục tuyên truyền đến người khác gây ảnh hưởng xấu đến uy tín và thương hiệu của bệnh viện. Vì vậy, thúc đẩy quá trình giao tiếp trong môi trường CSSK là một đòi hỏi và thách thức do tính chất đặc thù của môi trường bệnh viện. Điều quan trọng không phải là ĐD hiểu những gì NB mong đợi từ các trò chuyện mà ĐD cần khuyến khích NB nói chuyện, không chỉ nói về bệnh tật mà còn về những lo lắng và cảm xúc của NB.
ĐD phải lắng nghe nhiều hơn nói, cả những gì NB đang nói bằng lời và những gì NB không nói bằng lời, ĐD lắng nghe cẩn thận và bằng sự đồng cảm với NB. Khi ĐD có sự hiểu biết đầy đủ về tình trạng của NB và thì ĐD mới có thể tiến hành các can thiệp chăm sóc phù hợp [46].