CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực. Khái niệm nguồn nhân lực Khái niệm về nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ XX , cho đến nay có rất nhiều khái niệm về nguồn nhân lực khác nhau tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận về nguồn nhân lực: Theo tác giả Trần Xuân Cầu và cộng sự, nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực con người được xem xét ở 2 khía cạnh:Với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực thì nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người.Với tư cách là nguồn lực của quá trình phát triển: nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện ra là số lượng nhất định tại một thời điểm nhất định [18] Theo tác giả Trần Kim Dung, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động [17]. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó [19]. Công ty Cổ phần Bệnh viện GTVT là một tổ chức.Vì vậy, trong luận văn này khái niệm nguồn nhân lực được thống nhất theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: Cụ thể nguồn nhân lực của Công ty Cổ phần Bệnh viện GTVT bao gồm các nhà quản lý, bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nữ hộ sinh, dược sỹ và các thành phần khác đang công tác tại CTCP Bệnh viện GTVT.
Quản lý nguồn nhân lực Quản lý nguồn nhân lực nói chung là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá và duy trì lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng. Thực chất của quản lý nguồn nhân lực là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ tổ chức, là sự đối xử của tổ chức đối với người lao động. Nói cách khác, quản lý nguồn nhân lực chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào tổ chức, giúp họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh [19]. Xét trên giác độ tiếp cận các chức năng của quản lý nguồn nhân lực, tác giả Nguyễn Hữu Thân đưa ra một định nghĩa “Quản lý nguồn nhân lực là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức”.
Về bản chất, một cách chung nhất thì quản lý nguồn nhân lực là công tác quản lý con người trong tổ chức, xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên về cả số lượng và chất lượng [10]. Khái niệm nguồn nhân lực y tế. Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới(WHO) đưa ra định nghĩa về nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe. Theo đó, nguồn nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế.
Nó bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y….); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp) Nguồn nhân lực y tế được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập của cá nhân trong tương lai và lợi ích của xã hội thông qua cung cấp dịch vụ y tế. Khi nói đến nguồn nhân lực y tế ta đề cập đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của việc cung cấp dịch vụ y tế. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh ở kiến thức, kỹ năng và thái độ của nhân viên y tế trong việc cung cấp dịch vụ y tế [20]. Quản lý nguồn nhân lực Y tế Quản lý nguồn nhân lực y tế là việc quy hoạch, đào tạo, sử dụng hiệu quả, quản lý và nâng cao năng lực chuyên môn.
Xác định, duy trì và phát triển kiến thức, năng lực của nhân viên y tế. Tất cả các yếu tố này đều có tác động đến kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ y tế [20]. Quản lý nguồn nhân lực y tế là quá trình tổ chức, khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên con người từ các đơn vị, các tổ chức y tế. Quản lý nguồn nhân lực chính là việc thực hiện chức năng tổ chức quản lý cơ bản trong các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế bao gồm: - Phân tích công việc, chuẩn hóa công việc của từng loại hình nhân viên y tế để tuyển dụng, đào tạo và đánh giá nhân viên của các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế.
- Tuyển dụng nhân viên theo nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế. - Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân viên để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ y tế. - Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thông qua việc sử dụng hệ thống kích thích vật chất và tinh thân đối với nhân viên y tế [20]. QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC YTẾ Chức năng Tổ chức Phân tích Tuyển dụng Đào tạo và Nâng cao công việc nhân viên cho nâng cao năng hiệu quả sử từng lĩnh vực hoạt động lực chuyên dụng nhân lực trong cơ sở y cung cấp dịch môn cho nhân y tế tế vụ y tế viện y tế Sơ đồ 1.1: Nội hàm quản lý nguồn nhân lực y tế 7 1.Thực trạng sự dịch chuyển nhân lực y tế trong giai đoạn hiện nay.
Thực trạng dịch chuyển nhân lực y tế. Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực y tế nói chung và nhân lực bác sĩ nói riêng vẫn là bài toán khó chưa có lời giải triệt để. Hơn nữa, trong những năm gần đây với nhu cầu khám chữa bệnh ngày một tăng cao của người dân, các bệnh viện tuyến Trung ương thường xuyên trong tình trạng quá tải, có nhiều bệnh viện công suất sử dụng giường bệnh lên tới 150% [3]. Đứng trước yêu cầu đó Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu KCB của người dân.
Một trong những giải pháp đó là tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các bệnh viện tuyến trên, mở rộng bệnh viện hoặc xây dựng các cơ sở mới ( cơ sở 2, 3 ), thành lập các bệnh viện vệ tinh tại các tỉnh thành lân cận. Chủ trương xã hội hóa công tác y tế cũng đang được đẩy mạnh [4]. Chỉ trong vài năm gần đây hệ thống các phòng khám đa khoa tư nhân chất lượng cao, các bệnh viện đa khoa, bệnh viện khách sạn phát triển rất mạnh. Từ những lý do trên nhu cầu về nhân lực và đặc biệt là nhân lực bác sĩ ngày một tăng cao.
Trong khi đó, hệ thống đào tạo nhân lực y tế chưa đáp ứng kịp nhu cầu của thị trường, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực [4]. Các phòng khám, bệnh viện tư nhân mới thành lập được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc hiện đại và đặc biệt với việc áp dụng các mô hình quản lý doanh nghiệp rất minh bạch, tinh gọn và hiệu quả vào công tác quản lý y tế. Với chiến lược thu hút nhân tài được các bệnh viện tư nhân đặc biệt chú trọng, những chính sách đãi ngộ vô cùng hấp dẫn như: sẵn sàng trả mức lương cao gấp nhiều lần so với các bệnh viện công lập, đền bù toàn bộ phí đào cho bệnh viện đang công tác, hỗ trợ phương tiện đi lại, hỗ trợ mua nhà…Từ đó, đã tạo ra sự so sánh về điều kiện làm việc,về chế độ đãi ngộ cũng như cơ hội thăng tiến. Khi bài toán so sánh có sự chênh lệch quá lớn các bác sĩ sẵn sàng từ bỏ cơ sở mình đã gắn bó để đến một cơ sở y tế khác với những chế độ đãi ngộ tốt hơn, điều kiện làm việc đầy đủ hơn.
Từ những lý do trên mà tình trạng dịch chuyển nhân lực y tế đang có chiều hướng gia tăng. Xu hướng dịch chuyển của cán bộ y tế từ: tuyến dưới lên tuyến trên, từ nông thôn ra thành thị, từ bệnh viện công ra các bệnh viện tư. Chỉ trong vài năm gần đây tại các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố HCM… đã có hàng trăm bác sĩ, các chuyên gia Y tế đầu ngành từ các bệnh viện công lập xin nghỉ việc hoặc chuyển công tác sang đầu quân cho các bệnh viện tư nhân, các tập đoàn Y – Dược lớn có 8 thương hiệu [2]. Không ít những sinh viên giỏi, những bác sĩ đang học chuyên khoa I, thạc sỹ, chuyên khoa II đang còn trong thời gian học tập đã được các bệnh viện lớn, các bệnh viện tư, các phòng khám có thương hiệu tuyển dụng với những chế độ đãi ngộ hấp dẫn.
Thực trạng nhân lực và sự dịch chuyển nhân lực bác sĩ tại Công ty Cổ phần Bệnh viện Giao thông Vận tải sau cổ phần hóa. Công ty Cổ phần Bệnh viện Giao thông Vận tải là bệnh viện đầu tiên trong cả nước thực hiện thí điểm mô hình cổ phần hóa bệnh viện công lập.Từ một đơn vị sự nghiệp chuyển sang mô hình công ty cổ phần hoạt động theo luật doanh nghiệp. Với quy mô là một bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Bộ GTVT, số giường kế hoạch 470.