ĐẶT VẤN ĐỀ Con ngƣời là nhân tố không thể thiếu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đối với một đơn vị, tổ chức, con ngƣời chính là nguồn lực quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại, nó vừa là yếu tố cạnh tranh vừa là thƣớc đo để đánh giá trình độ phát triển của đơn vị, tổ chức đó (1). Vì vậy, công tác quản lý và phát triển nguồn nhân lực là công tác luôn đƣợc chú trọng đặc biệt trong chiến lƣợc phát triển của bất kỳ đơn vị tổ chức nào. Đối với lĩnh vực y tế, nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản trong mọi hoạt động chăm sóc sức khỏe con ngƣời.
Trong thời đại công nghệ phát triển, sự ra đời của máy móc, trang thiết bị y tế hiện đại đã ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên hơn hết, chất lƣợng nguồn nhân lực mới là yếu tố quyết định chi phối toàn bộ chất lƣợng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe (1). Có 2 nhóm yếu tố tác động đến nguồn nhân lực của một cơ sở y tế bao gồm yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Yếu tố khách quan là chính sách, môi trƣờng làm việc, lƣơng, phúc lợi, mối quan hệ đồng nghiệp, mối quan hệ với lãnh đạo… Yếu tố chủ quan là tình trạng sức khỏe, trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, vị trí công việc đƣợc phân công phù hợp với năng lực, chuyên ngành đƣợc đào tạo của từng nhân sự trong một cơ sở y tế (2).
Do vậy, đối với công tác quản lý trong lĩnh vực y tế, cần đặc biệt quan tâm đến vai trò của nhân lực cũng nhƣ công tác quản lý nguồn nhân lực. Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam những năm gần đây cho thấy: sự hài lòng đối với công việc là một yếu tố thiết yếu để duy trì nguồn nhân lực y tế và nâng cao chất lƣợng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế (3). Khi NVYT hài lòng với công việc, họ sẽ có năng lƣợng tích cực để làm việc chăm chỉ hơn, gắn bó lâu dài hơn, đảm bảo số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực của đơn vị. Ngƣợc lại, sẽ dẫn đến thiếu hụt nguồn nhân lực cũng nhƣ các dịch vụ y tế cung cấp cho ngƣời bệnh không đảm bảo.
Tuy vậy, những năm qua, sự thiếu hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế diễn ra thƣờng xuyên ở các bệnh viện và các cơ sở chăm sóc y tế khắp mọi nơi trên thế giới (4,5). Một nghiên cứu tại Đức cho thấy các 2 yếu tố thuộc cơ sở y tế sẽ có tác động nhất định nhằm làm giảm sự thiếu hụt nguồn lực NVYT tại các bệnh viện (3). Theo một nghiên cứu năm 2017, sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế tại các bệnh viện huyện ở miền Bắc Việt Nam chỉ ở mức vừa phải, dao động từ 69 – 91% (6). Kết quả một số nghiên cứu chỉ ra các yếu tố gây nên tỷ lệ không hài lòng của NVYT là mức lƣơng, khối lƣợng công việc và các chính sách cải cách (1,7–9).
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (ĐHYHN) là một bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Bộ Y tế. Hàng năm, bệnh viện đón gần 500.000 lƣợt bệnh nhân đến khám và điều trị cùng với hàng ngàn học viên, sinh viên đến thực tập. Bên cạnh đó, trong khoảng 2 năm trở lại đây (từ năm 2018), bệnh viện ĐHYHN đã triển khai nhiều gói dịch vụ chăm sóc sức khỏe cao cấp áp dụng những kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị dẫn tới số lƣợng ngƣời đến bệnh viện ngày một gia tăng (10). Điều này đã làm gia tăng áp lực công việc cho NVYT đặc biệt là NVYT ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàng.
Tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng, NVYT phải thƣờng xuyên thăm khám, trực tiếp tiếp xúc với ngƣời bệnh trong khi áp lực công việc nặng nhọc sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hƣởng lớn đến chất lƣợng khám chữa bệnh cũng nhƣ định hƣớng phát triển trở thành bệnh viện hàng đầu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Áp lực công việc gia tăng trong khi các chính sách, chế độ tiền lƣơng và các khoản phúc lợi chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu là một vấn đề nổi bật đáng quan tâm tại bệnh viện. Đặc biệt, có một số lƣợng nhất định NVYT của bệnh viện (bao gồm bác sĩ và điều dƣỡng) đã xin chuyển công tác sang các đơn vị khác khiến vấn đề duy trì và động viên nguồn nhân lực trở thành ƣu tiên hàng đầu. Dựa vào những vấn đề trên, câu hỏi đặt ra cho nhà quản lý bệnh viện là NVYT ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàng hiện nay có thực sự hài lòng với công việc không? Những yếu tố nào ảnh hƣởng đến sự hài lòng đó? Xuất phát từ những lý do nhƣ vậy, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu để tài “Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và một số yếu tố ảnh hưởng, năm 2020”.
Mô tả sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2020. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng tới sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nhân lực y tế Hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực y tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan.
Yếu tố khách quan nhƣ: Điều kiện về tự nhiên, những vùng khó khăn về giao thông, vị trí địa lý không thuận lợi, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo; Điều kiện kinh tế - xã hội nhƣ dân số, trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng, trình độ dân trí, kiến thức, hiểu biết của ngƣời dân về chăm sóc sức khỏe cho bản thân…có tác động không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực y tế. Yếu tố chủ quan đóng vai trò quan trọng hơn, đó là: Sự phát triển của hệ thống y tế địa phƣơng; Chất lƣợng nguồn nhân lực y tế, bao gồm việc đào tạo, đào tạo liên tục, bố trí sắp xếp công việc phù hợp, cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý; Môi trƣờng làm việc thuận lợi, an toàn, đảm bảo đầy đủ các trang thiết bị hỗ trợ để phát huy hết năng lực trong công tác khám chữa bệnh; Chế độ đãi ngộ đặc biệt; Chính sách thu hút thỏa đáng đối với cán bộ y tế (11). Ngoài ra, theo Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2016 của Bộ Y tế đã đƣa nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế giai đoạn 2016-2020 là tăng cƣờng chất lƣợng đào tạo và cải tiến phong cách thái độ làm việc của nhân lực y tế đang bị chi phối bởi một số yếu tố (12), đó là: - Chất lƣợng đào tạo: Nhân lực y tế đƣợc đào tạo hiện nay chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu thực tế trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập quốc tế; Nội dung kiểm định chất lƣợng giáo dục y khoa chƣa đƣợc triển khai; Chuẩn đầu ra của các chƣơng trình đào tạo mới đƣợc ban hành chƣa đƣợc áp dụng để quản lý chất lƣợng đào tạo. - Chính sách đối với nhân lực y tế: chƣa tăng cƣờng, bổ sung chính sách đặc thù trong đào tạo nhân lực y tế: chế độ, chính sách đối với cán bộ y tế còn chƣa hợp lý, mức lƣơng khởi điểm chƣa tƣơng xứng với thời gian đào tạo.
Chƣa có chính sách bền vững để thu hút những thầy thuốc có trình độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi làm việc lâu dài tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. - Phân bổ nhân lực y tế: đang còn nhiều bất cập, không đồng đều về chất lƣợng giữa các vùng, các tuyến. 5 - Phối hợp tổ chức đào tạo và quản lý nhân lực y tế: Việc thực hiện quy định chuyển tất cả các cơ sở đào tạo cao đẳng, trung cấp Y Dƣợc sang Bộ LĐTBXH quản lý tạo sự biến động lớn, gây lúng túng, bất an đối với các cơ sở đào tạo cũng nhƣ học viên. Khái niệm về nhân viên y tế Theo Báo cáo sức khỏe thế giới năm 2006 của Tổ chức y tế thế giới (WHO), nhân viên y tế (healthcare workers) đƣợc định nghĩa bao gồm tất cả những ngƣời tham gia vào các hành động với mục đích là tăng cƣờng sức khỏe.
Định nghĩa này mở rộng từ định nghĩa của WHO về hệ thống y tế bao gồm các hoạt động có mục tiêu chính là cải thiện sức khỏe. Nói chính xác, theo định nghĩa này thì những phụ huynh chăm sóc con cái của họ bị ốm và những ngƣời chăm sóc không đƣợc trả lƣơng khác cũng nằm trong lực lƣợng nhân viên y tế. NVYT đóng góp một phần quan trọng trong việc thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế. Tuy nhiên, các dữ liệu có sẵn lại chỉ đƣợc thu thập ở những đối tƣợng đang đƣợc trả lƣơng (13).
Tại Việt Nam, khái niệm nhân viên y tế đƣợc Bộ Y tế định nghĩa trong quy định nội dung hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Y tế. Cụ thể, nhân viên y tế là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (kể cả công và tƣ, kể cả biên chế và hợp đồng) (14). Theo định nghĩa này, nhân viên y tế sẽ là những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, bao gồm: bác sĩ, điều dƣỡng, dƣợc sĩ, kỹ thuật viên, những nhà quản lý và cả những nhân viên khác nhƣ: kế toán, cấp dƣỡng, lái xe, hộ lý… 1. Tình hình nguồn nhân lực y tế trên thế giới và Việt Nam a.
Thế giới Theo báo cáo sức khỏe toàn cầu năm 2006 (13), trên thế giới có khoảng 59,2 triệu NVYT trong đó có 39,4 triệu ngƣời cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và 19,7 triệu nhân viên hỗ trợ và quản lý sức khỏe.