CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN cứu 1.1 Lý do chọn đề tài Số vụ tai nạn lao động tại Việt Nam vượt quá 6500 vụ trong năm 2021 đã làm hon 780 người chết và làm thiệt hại tài sản gần 4000 tỉ đồng và hon 116 nghìn ngày công (Quân, 2022). Điều này đã nhấn mạnh tầm quan trọng của an toàn và sức khỏe nghề nghiệp đối vói các tổ chức và cá nhân đang trong độ tuổi lao động của nền kinh tế. Vào quý 1 hàng năm, các tỉnh cũng như trung ưong thường xuyên ban hành và triển khai các kế hoạch hành động về an toàn và vệ sinh lao động nhằm đẩy mạnh công tác phòng, chống và giảm thiểu các vụ tai nạn lao động ở nhiều ngành nghề khác nhau. Nhiều hoạt động được các co quan Nhà nước phát động như tăng cường tuyên truyền, tư vấn, tập huấn, huấn luyện an toàn lao động theo từng đặc thù ngành nghề; tăng cường hoạt động xây dựng và triển khai các văn bản quy định về việc thực thi an toàn trong lao động; tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra về an toàn lao động; tăng cường thăm hỏi, động viện và hỗ trợ các chính sách đối vói các gia đình có nạn nhân bị tai nạn lao động ở các thời kỳ trước (LĐTBXH, 2022).
Điều đó cho thấy, chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước đã nhận thấy ảnh hưởng tiêu cực to lớn từ hậu quả của tai nạn lao động trong các ngành kinh tế. Theo tổ chức lao động quốc tế ILO (Organization, 1998), tai nạn lao động là các sự kiện xảy ra ngoài dự kiến hoặc ngoài kế hoạch có liên quan đến công việc và có dẫn đến hậu quả làm một hoặc nhiều người lao động bị thương tật, bệnh tật hoặc tử vong. Tai nạn, thương tích và bệnh tật tại nơi làm việc tiếp tục là một vấn đề nghiêm trọng trong các tổ chức trên toàn thế giới chứ không riêng ở một quốc gia nào. Tại Hoa Kỳ, hàng ngày ước chừng có khoảng 340 trường hợp tử vong tại nơi làm việc (OSH, 2022).
Sự cẩn thận trong công việc của các nhân viên khá là khác nhau nên khả năng bị tai nạn ở một số người là cao, trong khi một số khác ít bị tai nạn hoặc sự cố trong lao động. Ở Việt Nam, lao động ở các vùng khác nhau cũng có tỷ lệ bị tai nạn lao động khác nhau. Theo thống 2 kê từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì ba nơi có tỷ lệ tai nạn lao động cao nhất cả nước là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, và Đồng Nai. Tỷ lệ tai nạn lao động cũng có tỷ lệ khác nhau ở các các ngành nghề khác nhau.
Cũng theo báo cáo từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì ngành xây dựng là ngành có tỷ lệ tai nạn lao động cao nhất trong tất cả các ngành nghề - chiếm đến 14% tỷ lệ tai nạn lao động của cả nước, kế đến là các lĩnh vực khai thác mỏ - khoáng sản, và thứ ba là sản xuất vật liệu xây dựng (LĐTBXH, 2022). Điều này cho thấy, các học giả và các nhà quản trị các doanh nghiệp trong ngành xây dựng và các nhà làm chính sách cần tìm hiểu rõ các nguyên nhân gây ra tỷ lệ tai nạn lao động cao trong ngành xây dựng để có các chiến lược phòng tránh hiệu quả, cải thiện tình hình tai nạn lao động trong ngành này. Một trong các vấn đề mà các nhà quản trị thường bỏ qua khi xây dựng các chính sách phòng, chống tai nạn lao động trong doanh nghiệp là vai trò của người lao động trong việc tham gia vào hoạt động quản trị an toàn lao động trong tổ chức. Vì vậy, các yếu tố xuất phát từ người lao động đã bị bỏ qua.
Đặc biệt, trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kỹ lưỡng để tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản trị an toàn lao động và phát hiện ra rằng việc trao quyền tâm lý của lãnh đạo cho nhân viên, sự nhận diện tổ chức của nhân viên, và việc thực hành an toàn của nhân viên có thể có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động quản trị an toàn lao động của các doanh nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam. Hai yếu tố trao quyền tâm lý và nhận diện tổ chức là hai yếu tố ít được các học giả cũng như các nhà quản lý quan tâm vì chưa có nghiên cứu nào phát hiện ra mối quan hệ của hai yếu tố này tác động đến hoạt động quản trị an toàn lao động trong các tổ chức. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng trao quyền tâm lý là hoạt động làm tăng sức mạnh về tâm lý của người lao động, dẫn đến người lao động làm việc tích cực hơn, say mê hơn, có hiệu suất cao hơn, và hiệu quả tự quản lý tốt hơn, nhờ họ cảm thấy tự hào hơn vì cảm thấy mình có vai trò quan trọng và ý nghĩa hơn trong tổ chức của họ (Ví dụ: Mahmoud, Ahmad, & Poespowidjojo, 2022; Ochoa Pacheco, Cunha, & Abrantes, 2022). Mặt khác, sự nhận dạng tổ chức cũng là yếu tố nâng cao sự tự hào của bản thân nhân viên trong một 3 tổ chức; nhân viên có xu hướng đề cao tầm quan trọng của nơi họ làm việc và nó khiến họ yêu quý tổ chức cũng như bản thân họ hơn.
Khi nhân viên có sự đồng cảm với tổ chức, sự thành công hay thất bại của tổ chức sẽ khiến họ cảm thấy buồn - vui như chính sự thành công hay thất bại của bản thân và điều đó thúc đẩy hiệu suất làm việc của họ (Peng, Lee, & Lu, 2020). Qua đó, những phân tích trên cho thấy sự nhận dạng tổ chức có thể là tác nhân khiến nhân viên nâng cao việc tham gia vào hoạt động lao động an toàn và giúp tăng hoạt động quản trị an toàn lao động trong các tổ chức. Từ các lập luận ở trên, các tác giả dự định thực hiện nghiên cứu này nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa trao quyền tâm lý, nhận dạng tổ chức, và thực hành an toàn tác động lên hoạt động quản trị an toàn lao động. Trong đó, xuất phát từ lý thuyết trao đổi xã hội của Cook, Cheshire, Rice, & Nakagawa (2013) và thuyết kỳ vọng của Vroom, Porter, & Lawler (2015), hoạt động quản trị an toànlao động được đánh giá thông qua hai yếu tố là Tham gia an toàn và Sử dụng thiết bị lao động an toàn.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị an toàn lao động trong các doanh nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể: - Mục tiêu 1: Xác định các yếu tố tác động đến hoạt động quản trị an toàn lao động trong các doang nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam. - Mục tiêu 2: Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến hoạt động quản trị an toàn lao động trong các doang nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam - Mục tiêu 3: Đe xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị an toàn lao động trong các doang nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam 1.3 Câu hỏi nghiên cứu các yếu tố nào tác động đến hoạt động quản trị an toàn lao động các doang nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam? 4 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến hoạt động quản trị an toàn lao động trong các doang nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam? Hàm ý quản trị nào giúp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị an toàn lao động cho các doanh nghiệp trong các doang nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam? 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đoi tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị an toàn lao động trong ngành xây dựng tại Việt Nam. Đối tượng khảo sát: Các doanh nghiệp trong ngành xây dựng tại Việt Nam 1.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vị không gian: Thực hiện tại các doanh nghiệp trong ngành xây dựng ở Việt Nam Phạm vi thòi gian: Thu thập số liệu sơ cấp của ngành xây dựng từ 2018-2023, và số liệu sơ cấp từ tháng 01.2023 đến tháng 04.5 Ý nghĩa của đề tài về mặt lý thuyết: Xác định được tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả an toàn lao động trong ngành xây dựng tại Việt Nam. về mặt thực tiễn: Nghiên cứu giúp cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành xây dựng biết được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị an toàn lao động.
Từ đó, các nhà quản trị các doanh nghiệp xây dựng có thể biết được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị an toàn lao động từ nâng cao hiệu qủa an toàn lao động trong ngành.6 Kết cấu của đề tài Đe tài được trình bày với kết cấu 5 chương như sau: Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Thảo luận nghiên cứu và hàm ý quản trị 6 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm có liên quan 2.1 An toàn lao động Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015: An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thưong tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động. Như vậy an toàn lao động được hiểu là tình trạng điều kiện lao động mà ở đó không xảy ra nguy hiểm cho người lao động và những người xung quanh.2 Tham gia an toàn và sử dụng công cụ an toàn Tham gia an toàn đề cập đến việc tự nguyện của nhân viên trong việc tham gia vào các hành vi và thủ tục đảm bảo an toàn tại noi làm việc mà tổ chức quy định (Bayram, Arpat, & Ozkan, 2022). Ngoài việc đảm bảo thực hiện công việc một cách an toàn, sự tham gia an toàn còn ám chỉ việc tham gia vào các cuộc họp thảo luận về các chính sách an toàn và đóng góp ý kiến của nhân viên nhằm cải tiến các quy trình và thủ tục an toàn, nâng cao hoạt động quản trị an toàn của tổ chức cho toàn thể tập thể (Neal & Griffin, 2004).