ĐẶT VẤN ĐỀ Sự hài lòng đối với công việc là cảm giác hay đáp ứng cảm xúc mà con người trải qua khi thực hiện một công việc. Hiệu quả làm việc của một cá nhân phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố hài lòng đối với môi trường làm việc, với lãnh đạo, đồng nghiệp, các chế độ được hưởng, .và nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hài lòng đối với các yếu tố này của nhân viên y tế (NVYT) sẽ đảm bảo duy trì đủ nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế. Nếu giảm sự hài lòng đối với công việc của NVYT sẽ làm giảm chất lượng các dịch vụ y tế cung cấp cho người bệnh (1). Bên cạnh đó, nhân lực y tế là thành phần quan trọng trong hệ thống y tế, là yếu tố chính đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế.
Chính vì vậy, phát triển nguồn nhân lực y tế là nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế, để đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, việc quản lý sử dụng, đãi ngộ nhân lực y tế còn nhiều hạn chế như thu nhập, điều kiện làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp. Mặc dù, đã có một số chính sách để tạo điều kiện cho các đơn vị tự tháo gỡ các khó khăn, cải thiện thu nhập cho nhân viên, nhưng đồng thời cũng dẫn tới tình trạng hạn chế tuyển dụng để giảm chi phí hướng đến tự chủ kinh tế. Hay công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho NVYT cũng gặp một số khó khăn về nguồn kinh phí và tổ chức thực hiện.
Điều này khiến tỷ lệ chuyển việc và xin nghỉ việc của NVYT tăng cao. Một số nghiên cứu trong nước cho thấy tỷ lệ hài lòng của NVYT dao động từ 38% đến 86% (2-4). Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hài lòng về lương và phúc lợi là thấp nhất, Nguyễn Văn Trung tại bệnh viện Châu thành (15,45%), Cù Bạch Mi tại bệnh viện đa khoa Trà Vinh (53,6%), Lê Thanh Nhuận tại các bệnh viện huyện Bình Xuyên (52,5%) (3-5). Bệnh viện Y học cổ truyền Long An đang trong giai đoạn chuyển giao sang tự chủ tài chính hoàn toàn, điều này đặt ra thách thức lớn đối với đội ngũ cán bộ quản lý của Bệnh viện.
Năm 2020, tổng số nhân sự tại bệnh viện là 86 người, nhưng trong hai năm gần đây có 05 trường hợp chuyển công tác (trong đó có 01 bác sĩ trưởng khoa), 05 trường hợp nghỉ việc (dù đơn vị không giải quyết nghỉ việc nhưng cá nhân vẫn nghỉ và phải xử lý kỉ luật với hình thức buộc thôi việc). Câu hỏi đặt ra là vì sao số cán bộ chuyển việc và xin nghỉ việc của bệnh viện lại nhiều như vậy (11%)? Phải chăng họ chưa hài lòng với công việc tại Bệnh viện. 2 Để tìm hiểu sâu hơn về đánh giá của NVYT đối với đơn vị, cũng như tìm hiểu sự đánh giá của họ, việc nghiên cứu sự hài lòng về công việc của nhân viên bệnh viện là một vấn đề cần thiết trong lĩnh vực quản lý bệnh viện. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Long An năm 2021”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả sự hài lòng của nhân viên y tế trong công việc tại bệnh viện Y học Cổ truyền Long An năm 2021. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế tại bệnh viện Y học Cổ truyền Long An năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 1. Khái niệm về nhân lực y tế Theo WHO (2006), “nhân viên y tế là tất cả những người tham gia vào những hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe của người dân”. Nói chính xác, theo nghĩa này thì người nhà chăm sóc người bệnh và những người tình nguyện trong lĩnh vực y tế cũng bao gồm trong nguồn nhân lực y tế. Tuy nhiên, dữ liệu có thể về số NVYT chủ yếu giới hạn trong những người tham gia vào các hoạt động được trả lương (6).
Cụ thể hơn, WHO định nghĩa NVYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sỹ, điều dưỡng, y tế công cộng, dược sỹ, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên khác: kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý (3, 6, 7). Theo thông tư số 28/2014/TT-BYT ngày 14/8/2014 của Bộ Y tế “NVYT là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (kể cả công và tư, kể cả biên chế và hợp đồng” (8). Trong nghiên cứu của chúng tôi, đối tượng nghiên cứu là NVYT theo định nghĩa của Bộ Y tế, bao gồm toàn bộ lao động hiện đang công tác tại bệnh viện kể cả lao động được biên chế hay hợp đồng tại bệnh viện Thực trạng về nguồn nhân lực y tế: Nhân lực ngành y tế là thành phần quan trọng trong hệ thống cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng và hướng đến chăm sóc sức khỏe toàn dân (9). Theo niên giám thống kê thì tại Việt Nam, năm 2018, mỗi 10000 dân có khoảng 8,67 bác sĩ, 16 điều dưỡng và 2,91 dược sĩ (10).
Nhân lực ngành y tế phải đảm bảo đáp ứng cả hai yêu cầu về y đức và chuyên môn. Một trong những yêu cầu chất lượng y tế là đảm bảo sự an toàn, công bằng trong chăm sóc người bệnh. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, dân số Việt Nam ước tính là 97.118 người, tăng 876.475 người so với dân số 96.947 người năm trước (Nguồn: https://danso.org/viet-nam/). Với áp lực dân số nhu thế, nguồn nhân lực y tế đang thật sự thiếu.
Chính vì thế, nhà chính sách cần phải tăng cường đào tạo bổ sung nguồn nhân lực y tế. Bên cạnh đẩy mạnh hoạt động đào tạo các bác sĩ đa khoa và chuyên khoa phổ biến thì việc đào tạo ra nguồn nhân lực cho những chuyên khoa ít nhân lực và khan hiếm trong tuyển sinh, ngày 07/02/2013, theo Quyết định số 319/QĐ-TTG phê duyệt đề án “Khuyến khích và phát triển nhân lực y tế chuyên ngành lao, phong, tâm thần, pháp y 5 và giải phẫu bệnh giai đoạn 2013-2020”, với mục tiêu bảo đảm đáp ứng về cơ bản nguồn nhân lực y tế thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân thuộc các lĩnh vực chuyên ngành đó (11). Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực y tế Một số yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của NVYT là quy mô bệnh viện, đặc điểm bệnh viện như mô hình trường viện, đào tạo liên tục hay lợi nhuận mang lại, hoặc theo số giường bệnh, số lượng bác sĩ, điều dưỡng, KTV (12). Ngoài ra, một số yếu tố về xã hội như: điều kiện về tự nhiên, giao thông, vị trí địa lý, dân số, trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, trình độ dân trí, có tác động mạnh đến hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực y tế.
Một số yếu tố chủ quan như sự phát triển của hệ thống y tế tại địa phương; chất lượng nguồn nhân lực y tế, bao gồm việc đào tạo, bố trí sắp xếp công việc phù hợp, cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý; điều kiện làm việc thuận lợi, an toàn, đảm bảo đầy đủ các trang thiết bị hỗ trợ; chế độ đãi ngộ đặc biệt; chính sách thu hút thỏa đáng đối với NVYT (13). Khái niệm sự hài lòng trong công việc của nhân viên Theo Spector (1997) thì sự hài lòng trong công việc là sự thỏa mãn của một cá nhân với công việc của họ; cho dù người ấy có thích công việc hay không (14). Theo Trường Đại học Oxford thì “sự hài lòng đối với công việc là cảm giác hay đáp ứng cảm xúc mà con người trải qua khi thực hiện một công việc”. Một số tác giả nghiên cứu về sự hài lòng với công việc cho rằng người lao động có thể đạt được sự hài lòng chỉ với một khía cạnh trong tất cả các khía cạnh đo lường sự hài lòng.
Các nhà nghiên cứu khác lý luận rằng chúng ta có thể không hài lòng về một yếu tố nào đó của công việc như tiền lương nhưng hài lòng về những yếu tố khác như mối quan hệ đồng nghiệp (15). Sự hài lòng và tinh thần làm việc của nhân viên y tế là mối quan tâm hiện nay trên toàn thế giới. Sự hài lòng trong công việc kém dẫn đến giảm hiệu quả làm việc của bác sĩ, ảnh hưởng xấu đến công việc chăm sóc y tế. Do đó, bằng cách tạo ra một môi trường thúc đẩy sự hài lòng trong công việc, một người quản lý chăm sóc sức khỏe có thể phát triển những nhân viên có động lực, năng suất và hoàn thành công việc.
Điều đó sẽ góp phần chăm sóc người bệnh chất lượng cao hơn và sự hài lòng của người bệnh. Tháng 8 năm 2019, Bộ Y tế (BYT) ra quyết định 3869/2019/QĐ-BYT ngày 28/08/2019, ban hành các mẫu phiếu và hướng dẫn khảo sát hài lòng người bệnh và 6 NVYT, trong đó hướng dẫn cụ thể phương pháp khảo sát hài lòng nhân viên (16) Năm 2016, Bộ Y tế ban hành tiêu chí kiểm tra chất lượng bệnh viện, khảo sát sự hài lòng người bệnh và NVYT. Nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cải tiến môi trường làm việc và tìm hiểu ý kiến, nguyện vọng của NVYT. Trong bộ câu hỏi được BYT ban hành với các nội dung như: - Sự hài lòng về môi trường làm việc.
- Sự hài lòng về lãnh đạo trực tiếp và đồng nghiệp. - Sự hài lòng về quy chế chi tiêu nội bộ tiền lương và phúc lợi. - Sự hài lòng về công việc cơ hội học tập và thăng tiến. - Sự hài lòng chung về bệnh viện.
Các lý thuyết về sự hài lòng của nhân viên trong công việc 1. Học thuyết nhu cầu theo cấp bậc của Maslow Nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra học thuyết Tháp nhu cầu Maslow vào năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation. Đây là một trong những học thuyết quan trọng nhất của ngành quản trị kinh doanh, đặc biệt là các ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự và quản trị marketing. Theo ông, cấu trúc của “Tháp nhu cầu Maslow có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp giống như kim tự tháp.
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn.