CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÂN SỰ TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Bệnh viện công lập Theo các tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1957, bệnh viện được hiểu theo nghĩa rộng hơn “Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới cả gia đình và môi trường cư trú. Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu y học”.
[3, tr 2]Hệ thống bệnh viện gồm một số loại hình bệnh viện trong có bệnh viện công đóng vai trò quan trọng. Bệnh viện công lập là tổ chức do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn khám chữa bệnh. [2, tr 3] Như vậy, Bệnh viện công là những Đơn vị sự nghiệp công thực hiện cung cấp dịch vụ y tế cho xã hội và thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn về y tế theo quy định và hoạt động dưới sự quản lý kiểm soát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Những đặc điểm hoạt động bệnh viện công giống những đặc điểm của Đơn vị sự nghiệp công và gắn với đặc thù của bệnh viện, nơi cung cấp dịch vụ y tế cho xã hội.
Quản lý nhân sự Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh (2008): giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực, trí lực của con người được sử dụng để hoàn thành quá trình lao động sản xuất. Đây được coi là sức lao động của con người, nguồn lực quý giá nhất đối với bất kỳ doanh nghiệp 7 nào. Như vậy, nhân lực là tất cả những lao động làm việc trong doanh nghiệp”[4, tr 4] PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân: “NNL của một doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực, trí lực và tâm”. [3, tr 6] Đó là toàn bộ còn người và các hành động của con người trong tổ chức đó tạo thành các hoạt động – phần không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Nhân sự là một nguồn lực không thể thiếu trong một tổ chức.Nhân sự của tổ chức tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Mỗi con người khác nhau có những đặc điểm cá nhân khác nhau, có khả năng hình thành nhóm hội, có tiềm năng phát triển, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với các hoạt động của các cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động vào môi trường xung quanh. Do đó quản lý nhân sự khó khăn và phức tạp hơn quản lý các nguồn lực khác.
Quản lý nhân sự nghiên cứu các vấn đề về quản lý con người trong tổ chức tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản: - Nhằm tăng năng suất lao động và tăng tính hiệu quả của tổ chức thì tổ chức cần sử dụng nhân sự một cách hiệu quả. - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân và trung thành, tận tâm với tổ chức. Như vậy, quản lý nhân sự là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Đặc điểm nhân sự tại bệnh viện công lập Thứ nhất đặc trưng nhân sự tại các bệnh viện công lập chủ yếu là nhân sự đặc biệt.
Những nhân sự này được đào tạo các trình độ về y và dược như: đào tạo bác sĩ, điều dưỡng viên, kỹ thuật viên, hộ sinh, dược sĩ. Trong đó khoảng 80 – 85 % tổng số nhân sự này hoạt động chủ yếu tại các cơ sở khám chữa bệnh như bệnh viện, trung tâm y tế, bệnh xá, phòng khám. Trong số đó có rất nhiều đội ngũ y bác sĩ thuộc chuyên khoa sâu khác nhau và mức độ thu hút chuyên khoa cũng khác nhau và khác các ngành khác như: Tâm lý học, kỹ sư, kế toán, nhân viên kỹ thuật, lái xe….Thời gian đào tạo đối với đội ngũ bác sĩ các trình độ là rất dài, đào tạo đại học 06 năm, nhưng không dừng lại ở đó mà đội ngũ y bác sĩ sau đó phải liên tục đào tạo sau đại học và cập nhật kiến thức. Thứ hai là tại bệnh viện công lập cung cấp loại dịch vụ đặc biệt và loại dịch vụ này tác động trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe con người nên nhân sự trong bệnh viện cũng làm việc trong môi trường rất đặc biệt và làm việc với mức độ rủi ro, thời gian làm việc vất vả, nhiều hôm phải trực đêm.
Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của nhân viên y tế ngoài việc thức đêm thì có thể tiếp xúc với các bệnh lây nhiễm hay bạo hành y tế. Đa số đội ngũ nhân viên y tế làm việc trong điều kiện cơ sở vật chất cũ kỹ, thiếu thốn và chật hẹp, quá tải nên việc đáp ứng yêu cầu về chuyên môn là chưa cao. Thứ ba là vấn đề phối hợp giữa các phòng ban chức năng trong yêu cầu giải quyết công việc khám chữa bệnh. Các bộ phận này phải phối kết hợp với nhau một cách kịp thời, nhịp nhàng và nhanh chóng.
Họ sẵn sàng tham gia làm việc nhóm, giải quyết các khâu chính xác đáp ứng được cường độ công việc cao. Chức năng quản lý nhân sự 1. Chức năng quản lý Chức năng quản lý nhân sự gồm 04 chức năng: Hoạch định, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát. Hoạch định - Quản lý nhân sự sẽ hoạch định số lượng và loại nhân viên cần thiết để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức được xác định.
9 Tổ chức - Trong một tổ chức, các nhiệm vụ được phân bổ giữa các thành viên, các mối quan hệ được xác định và các hoạt động được tích hợp hướng tới một mục tiêu chung. Các mối quan hệ được thiết lập giữa các nhân viên để họ có thể đóng góp chung vào việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Chỉ đạo - Có thể chỉ đạo, sắp xếp và điều chuyển nhân viên ở các cấp độ khác nhau và khiến họ đóng góp tối đa cho tổ chức thông qua định hướng và động lực phù hợp. Khai thác tiềm năng tối đa của nhân viên có thể thông qua động lực và mệnh lệnh.
Kiểm soát - Sau khi lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo, hiệu suất thực tế của nhân viên được kiểm tra, xác nhận và so sánh với kế hoạch. Nếu kết quả hoạt động thực tế được phát hiện có sai lệch so với kế hoạch, thì cần phải thực hiện các biện pháp kiểm soát. Chức năng hoạt động Tuyển dụng và lựa chọn - Tuyển dụng ứng viên là chức năng trước khi lựa chọn, mang đến nhóm các ứng viên tiềm năng cho tổ chức để ban quản lý có thể chọn ra ứng viên phù hợp từ nhóm này. Phân tích và thiết kế công việc - Phân tích công việc là quá trình mô tả bản chất của công việc và xác định các yêu cầu của con người như trình độ chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc để thực hiện công việc đó.
Thiết kế công việc nhằm mục đích vạch ra và tổ chức các công việc, nhiệm vụ và trách nhiệm thành một đơn vị công việc duy nhất để đạt được các mục tiêu nhất định. Đào tạo và Phát triển - Chức năng này của quản lý nguồn nhân lực giúp nhân viên có được các kỹ năng và kiến thức để thực hiện công việc của họ một cách hiệu quả. Các chương trình đào tạo phát triển được tổ chức cho cả nhân viên mới và nhân viên hiện tại. Nhân viên được chuẩn bị cho các trách nhiệm cấp cao hơn thông qua đào tạo và phát triển.
Tiền lương và Quản lý tiền lương - Quản lý nguồn nhân lực xác định số tiền phải trả cho các loại công việc khác nhau. Quản lý nguồn nhân lực quyết 10 định mức lương thưởng cho nhân viên bao gồm - quản lý tiền lương, quản lý tiền thưởng, khuyến khích, phúc lợi… 1. Chức năng tư vấn Tư vấn cho lãnh đạo cao nhất: Giám đốc nhân sự tư vấn cho lãnh đạo cao nhất trong việc xây dựng và đánh giá các chương trình, chính sách và thủ tục nhằm quản lý và phát triển nhân sự Tham mưu cho Trưởng bộ phận: Giám đốc nhân sự tư vấn cho người đứng đầu các bộ phận khác nhau về các vấn đề như lập kế hoạch nhân lực, phân tích công việc, thiết kế công việc, tuyển dụng, lựa chọn, bố trí, đào tạo, đánh giá hiệu quả công việc, v. Nội dung quản lý nhân sự 1.
Hoạch định nhân sự Có rất nhiều các cách hiểu khác nhau về hoạch định nhân sự. Nhưng nhìn chung có thể hiểu “Hoạch định nhân sự là quá trình xây dựng các mục tiêu phát triển nhân sự và xác định các nguồn lực, quyết định cách tốt nhất để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra của một doanh nghiệp” [3, tr 12] Hoạch định nhân sự là chức năng quan trọng của quản lý. Nó đảm bảo đúng loại người, đúng số lượng, vào đúng thời điểm và địa điểm, những người được đào tạo và có động cơ để làm đúng loại công việc vào đúng thời điểm, nói chung là rất thiếu người phù hợp. Thông thường để hoạch định được nhân sự gồm 2 nội dung: Phân tích công việc và lập kế hoạch nhân sự.
Phân tích công việc là quá trình thu thập và phân tích thông tin về nội dung và các yêu cầu của con người đối với công việc, cũng như bối cảnh mà công việc được thực hiện.