Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 123doc 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm động lực làm việc Động lực là quá trình kích thích, tác động, chỉ đạo và duy trì hành vi và hiệu suất. Đó là quá trình kích thích con người hành động và đạt được một công việc mong muốn. Một cách để kích thích con người là sử dụng động cơ hiệu quả, làm cho người lao động có động lực và gắn bó hơn với công việc của mình (Stajkovic và cộng sự, 1998).
Theo Michell (1982), động lực làm việc là quá trình tâm lý đánh thức sự thức tỉnh, phương hướng và duy trì hành vi hướng đến mục tiêu của tổ chức. Động lực là chịu ảnh hưởng trực tiếp của kết quả (cách tiếp cận kỳ vọng, hoạt động và công bằng); thiết lập mục tiêu xem kết quả như động lực gián tiếp ảnh hưởng thông qua mục tiêu và ý định. Bartol và cộng sự (1998) xác định động lực như là một lực lượng kích thích hành vi, hướng tới hành vi và là cơ sở cho phương hướng tồn tại. Động lực làm việc là một tập hợp các lực lượng mãnh liệt xuất phát từ bên trong và bên ngoài cá thể của mỗi cá nhân, bắt đầu hành vi liên quan đến công việc và xác định hình dạng, hướng, cường độ và thời gian của nó (Pinder, 1998).
Do đó, động lực là một quá trình tâm lý phát sinh từ sự tương tác giữa cá nhân và môi trường. Ngoài ra, động lực là lý do giúp cho nhân viên thực hiện công việc, duy trì và đóng góp hăng hái cho tổ chức của mình. Nhằm đạt được tiêu chí, nhân viên phải nắm rõ những vấn đề cần thực hiện, cần có những chính sách khuyến khích và tự nguyện cam kết để đạt được hiệu quả của tổ chức. Động lực là chuyển từ trạng thái chán nản thành hăng say với công việc (Islam và cộng sự, 2008).
Theo Robbins (1998), động lực làm việc là sự sẵn lòng nỗ lực cao để đạt được các phương hướng của tổ chức, nhân viên thỏa mãn một số nhu cầu trong điều kiện với khả năng mà họ nỗ lực. Còn theo Mullins (2005) thì động lực làm việc là một tác động bên trong kích thích đến mục tiêu của cá nhân nhằm thực hiện một số nhu cầu mà họ mong đợi. Các lý thuyết liên quan đến động lực làm việc 2. Thuyết nhu cầu Maslow (1943) Theo Maslow (1943) nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn) và nhu cầu bậc cao (nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự khẳng định).
Nhu cầu tự khẳng định Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 2.1: Các cấp bậc của nhu cầu Maslow Nguồn: Maslow, 1943. Nhu cầu sinh lý: đó là nhu cầu liên quan đến các yếu tố cần thiết để tồn tại như thức ăn, không khí, nhà ở, quần áo. Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện chủ yếu ở tiền lương và các khoản phúc lợi. Nhu cầu an toàn: bao gồm an toàn về bản thân như không bị tấn công, chiến tranh đe doạ, thiên tai; an toàn về tài chính như khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp; an toàn về sức khoẻ như không bị bệnh, tai nạn,.
Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện ở chỗ công việc an toàn, có bảo hộ lao động, công việc ổn định lâu dài. Nhu cầu xã hội: Khi nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn được thoả mãn thì nhu cầu thứ ba cao hơn xuất hiện đó là nhu cầu có được các mối quan hệ xã hội như bạn bè, gia đình, được tham gia vào cộng đồng xã hội, được yêu thương v. Nhu cầu được tôn trọng: Mọi người đều có nhu cầu được tôn trọng và tự trọng. Sự tôn trọng thể hiện ở việc con người muốn được chấp nhận và quý trọng bởi người 123doc 7 khác.
Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện việc được tổ chức ghi nhận những đóng góp của nhân viên, được làm việc ở vị trí cao và tăng thêm trách nhiệm. Nhu cầu tự khẳng định: Đây là nhu cầu cao nhất và khó thoả mãn nhất trong bậc thang nhu cầu của Maslow (1943). Đây là nhu cầu được thể hiện cái “tôi” của mỗi người. Nói rõ hơn ở bậc này, con người có nhu cầu được phát triển năng lực bản thân và tự hoàn thiện.
Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện ở việc được đào tạo, huấn luyện, thăng tiến, được có cơ hội phát huy năng lực, khả năng sáng tạo. Thuyết hai yếu tố của Herzberg (1959) Học thuyết hai yếu tố của Hertzberg (1959) chia các yếu tố làm hai nhóm: các yếu tố thúc đẩy và các yếu tố duy trì. Các yếu tố thúc đẩy gồm thành tích, sự công nhận, cơ hội phát triển, trách nhiệm và bản chất công việc được xem là những yếu tố nội tại. Nhân viên được thỏa mãn trong công việc nếu như họ được đáp ứng nhu cầu, ngược lại thì nhân viên sẽ không có được sự thỏa mãn.
Các yếu tố duy trì gồm chính sách của tổ chức, quan hệ đồng nghiệp, thu nhập, môi trường làm việc. Nếu nhân viên được thỏa mãn sẽ không có sự bất mãn trong việc làm, trái lại sẽ dẫn đến sự bất mãn. Nhân tố thúc đẩy Nhân viên bất Nhân viên Nhân viên Nhân tố duy trì mãn và không không còn bất không còn bất có động lực mãn nhưng mãn và có động không có động lực lực Hình 2.2: Thuyết hai Yếu tố của Herzberg Nguồn: Herzberg (1959). Như vậy, các nhân tố duy trì không tạo ra sự thúc đẩy để thỏa mãn cao hơn nhưng nó có điều kiện phải làm tốt.
Vì vậy, tổ chức cần tạo môi trường làm việc an toàn, quan hệ tốt với nhân viên v. Khi nhân viên có sự thỏa mãn trong công việc chính là nhờ các yếu tố động viên vì nó là điều kiện đủ để công việc được hoàn thành tốt hơn. Thuyết nhu cầu ERG của Alderfer (1972) Được xây dựng trên cơ sở thuyết nhu cầu của Maslow xác định 3 nhu cầu: tồn tại, giao tiếp, phát triển. Thuyết nhu cầu ERG của Alderfer (1972) cho rằng có nhiều hơn một nhu cầu ảnh hưởng và tác động đến cùng một người tại một thời điểm với một nhu cầu cao hơn không được thoả mãn thì một nhu cầu ở bậc thấp hơn sẵn sàng phục hồi.
Thuyết Alderfer (1972) cũng thể hiện sự liên quan đến sự động viên nhân viên làm việc, thuyết này giải thích được tại sao các nhân viên hay tìm kiếm mức lương cao hơn và điều kiện làm việc tốt hơn ngay cả khi những điều kiện này là tốt và đạt các tiêu chuẩn của thị trường lao động. Khi các nhân viên chưa cảm thấy thỏa mãn với nhu cầu giao tiếp và nhu cầu phát triển hiện tại, họ sẽ tìm cách được thỏa mãn. Như vậy, việc nhân viên có dự định nghỉ việc ở tổ chức hiện tại để tìm đến một công việc mới có liên quan đến sự thoả mãn nhu cầu phát triển trong công việc của họ. Thuyết mong đợi của Vroom (1964) Thuyết kỳ vọng này được Vroom (1964) xây dựng trên một số yếu tố tạo động lực trong lao động như: tính hấp dẫn của công việc, mối quan hệ giữa kết quả và phần thưởng, mối quan hệ giữa nỗ lực quyết tâm và kết quả lao động.
Vroom (1964) cho rằng hành vi và động lực làm việc của nhân viên không phải được quyết định bởi thực tế mà được quyết định bởi nhận thức của con người về những kỳ vọng của nhân viên trong tương lai. Vì vậy, để vận dụng thuyết này đòi hỏi nhà quản lý phải có trình độ nhất định. Vroom (1964) cho rằng người nhân viên chỉ có động lực làm việc khi nhận thức của họ về cả ba khái niệm về tính chất công việc, hóa trị, kỳ vọng là tích cực. Nói cách khác, họ tin rằng nỗ lực của họ sẽ đạt được kết quả tốt hơn, kết quả đó sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng và phần thưởng đó có ý nghĩa và phù hợp với mục tiêu cá nhân của họ.
Có thể tóm tắt học thuyết theo mô hình sau: 123doc 9 Nỗ lực (Effort) Kỳ vọng (Expectancy) Kết quả (Performance) Phần thưởng Hóa trị (Valence) (Outcome) Động lực (Motivational state) Hình 2.3: Mô hình kỳ vọng của Vroom Nguồn: Vroom (1964). Ứng dụng lý thuyết này vào nghiên cứu, để tạo động lực làm việc cho nhân viên người lãnh đạo nên có những mục tiêu, biện pháp cụ thể, tạo nhận thức cũng như kỳ vọng cho người lao động đó rằng những nỗ lực sẽ mang lại những giá trị như họ mong muốn. Muốn được như vậy, trước hết tổ chức phải đưa ra được những chính sách và truyền thông trong tổ chức thật tốt. Tất cả nhân viên biết làm thế nào đạt được mực tiêu cao nhất và với kết quả đạt được này họ sẽ nhận được phần thưởng cao nhất xứng đáng với nỗ lực của họ.
Nắm rõ được mục tiêu của tổ chức, mục tiêu của cá nhân và làm thế nào để đạt được cũng như thỏa mãn về thưởng phạt công minh cũng sẽ giúp họ tin rằng những kết quả họ đem lại chắc chắn sẽ nhận được sự công nhận cũng như khen ngợi và thưởng hợp lý của tổ chức từ đó tạo nên được động lực làm việc cao nhất. Các nghiên cứu trước liên quan đến động lực làm việc 2. Các nghiên cứu từ nước ngoài * Nghiên cứu của Kovach (1987) về điều gì tạo động lực cho nhân viên? Kovach (1987), đã tiến hành 3 cuộc khảo sát về 10 yếu tố động viên nhân viên theo xếp hạng của nhân viên và người quản lý về sự khác biệt giữa các nhóm này. Kết quả nghiên cứu 123doc 10 giúp làm sáng tỏa câu hỏi lý do vì sao nhân viên làm việc và những gì một nhà lãnh đạo thể hiện để đạt được hiệu quả cao nhất.
Tổng hợp lại, mô hình 10 yếu tố tạo động lực của Kovach (1987) qua các giai đoạn khảo sát năm 1946, 1981, 1986 đưa ra các yếu tố sau: (1) Công việc thú vị; (2) Sự công nhận; (3) Sự tự chủ trong công việc; (4) Công việc ổn định; (5) Tiền lương tốt; (6) Sự giúp đỡ của cấp trên; (7) Sự thăng tiến và phát triển; (8) Môi trường làm việc; (9) Sự gắn bó của cấp trên với nhân viên; (10) Xử lý kỷ luật khéo léo tế nhị.