Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Sự hài lòng công việc của người lao động 1. Khái niệm sự hài lòng đối với công việc và một số khái niệm liên quan Khái niệm về sự hài lòng đối với công việc có nhiều định nghĩa khác nhau và không có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Spector (1997) cho rằng sự hài lòng công việc đơn giản là sự yêu thích công việc, các khía cạnh công việc và xem sự hài lòng công việc như một biến hành vi.
Hài lòng công việc cũng được xem như việc hài lòng với các khía cạnh cụ thể hoặc hài lòng chung với công việc. TheoVroom (1964) sự hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức. Sự hài lòng đối với công việc còn tuỳ thuộc vào loại công việc, điều kiện kinh tế, xã hội, tập quán văn hoá của từng vùng miền khác nhau mà có những quan điểm khác nhau về vấn đề này. Một số nhà nghiên cứu lý luận cho rằng có thể đạt được một mức độ hài lòng với công việc chỉ với một vấn đề.
Một số khác gợi ý chúng ta có thể có những cảm xúc tiêu cực về một khía cạnh nào đó của công việc (như tiền lương) nhưng cảm xúc tích cực về những mặt khác (như đồng nghiệp). Sự hài lòng với công việc cần được xem xét ở cả hai mặt nguyên nhân và ảnh hưởng của các thay đổi về tổ chức. Định nghĩa của Trường Đại học Oxford về hài lòng đối với công việc là cảm giác hay đáp ứng cảm xúc mà con người trải qua khi thực hiện một công việc. Thuật ngữ hài lòng với công việc và động cơ (Motivation) làm việc thường được dùng thay cho nhau, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt.
Hài lòng đối với công việc là đáp ứng cảm xúc của một người đối với tình trạng công việc, trái lại động cơ làm việc là động lực theo đuổi và thỏa mãn nhu cầu. [34] Các công trình nghiên cứu về môi trường làm việc nằm trong sự hài lòng 12 Luan van đối với công việc đều rút ra cùng một kết luận rằng: Con người làm việc tốt nhất khi chính bản thân họ được thôi thúc làm việc tốt. Động cơ là cách hiểu ngắn gọn của cụm từ "hành động có động cơ", có nghĩa là biểu hiện của sự phấn đấu có mục đích, việc theo đuổi một mục tiêu đáng giá nào đó. Các nhà quản lý trong thời đại ngày nay phải hiểu rằng trách nhiệm cơ bản nhất của họ là giúp cho nhân viên của mình làm việc với hiệu quả cao nhất.
Điều này có nghĩa là phải khởi tạo và duy trì không khí làm việc tốt và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động có thể phát huy hết khả năng của mình. [24] Trong lĩnh vực y tế, động lực chủ yếu để làm việc tốt là những giá trị tinh thần và đạo đức của người thầy thuốc, đồng thời là môi trường làm việc tốt của cơ sở y tế trong đó sự đãi ngộ về vật chất cần được quan tâm. Chế độ tiền lương và phụ cấp cho cán bộ nói chung và cán bộ y tế nói riêng thường xuyên được cải tiến góp phần tăng cường chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Những lý thuyết về động viên khuyến khích người lao động nhằm đem đến sự hài lòng trong công việc,tạo động lực cho nhân viên làm việc và do đó làm tăng thành quả lao động cũng như lòng trung thành với tổ chức.
[6] Như vậy, khi người lao động hài lòng với công việc thì họ sẽ có động lực làm việc, động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì động lực của mỗi con người khác nhau nên nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau để đạt được mục tiêu trong quản lý. Lợi ích của sự hài lòng đối với công việc: Sự hài lòng thúc đẩy động lực làm việc của các cá nhân trong tổ chức, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc cho cá nhân và tổ chức.
Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực là sử dụng hợp lý nguồn lao động, khai thác hiệu quả nguồn lực con người nhằm không 13 Luan van ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Sự hài lòng sẽ tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức, người lao động có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức, đơn vị. [23] Việc làm hài lòng và tạo ra sự trung thành sẽ giúp cho tổ chức giảm được các chi phí tuyển dụng, đào tạo và giảm các lỗi sai sót trong quá trình làm việc từ những nhân viên mới. Đội ngũ nhân viên có tay nghề cao và giàu kinh nghiệm thường hoàn thành công việc một cách hiệu quả trong thời gian ngắn hơn so với nhân viên mới và thiếu kinh nghiệm trong công việc.
Ảnh hưởng của chất lượng làm việc, năng lực của đội ngũ nhân viên đã được các nhà nghiên cứu chất lượng thừa nhận. Các chuyên gia về chất lượng tại Mỹ như Deming, Juran cho rằng sự hài lòng công việc sẽ dẫn đến năng suất và hiệu suất của công ty. Chuyên gia chất lượng Nhật Bản như Ishikawa (1985) luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của “yếu tố con người” để tạo ra môi trường làm việc chất lượng cao. Ishikawa cho rằng kiểm soát chất lượng hiệu quả phải dựa trên quản lý con người.
Nghiên cứu của Saari và Judge (2004) cũng cho thấy sự hài lòng công việc có ảnh hưởng đến hiệu suất công việc của người lao động. Nhìn chung các nghiên cứu cho thấy việc làm hài lòng công việc sẽ làm cho người lao động trung thành hơn, ít xin nghỉ việc hơn hay giảm tình trạng đình công hay gia tăng các hoạt động công đoàn (Saari and Judge, 2004). Các lý thuyết động viên nhân viên 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow Thuyết nhu cầu theo thứ bậc của Maslow: Năm 1943, Abraham Maslow bắt đầu nghiên cứu lý thuyết thang bậc nhu cầu.
Đầu tiên ông chia nhu cầu của con người thành 5 bậc, đến năm 1970 chia thành 7 bậc, sau này các nhà kinh tế học hiện đại giới thiệu thuyết của ông thường là 5 bậc. Theo ông, hành vi con người phụ thuộc vào các động cơ bên trong, các động cơ được hình 14 Luan van thành từ những nhu cầu của con người[4]. Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao. Theo tầm quan trọng, cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: (1) Nhu cầu sinh lý: là những nhu cầu đảm bảo sự tồn tại của con người như: ăn, uống, sinh hoạt, phát triển giống nòi và các nhu cầu của cơ thể khác.
(2) Nhu cầu an toàn: là các nhu cầu đảm bảo an ninh, an toàn, không bị đe dọa, chuẩn mực, luật lệ. (3) Nhu cầu xã hội: là các nhu cầu về tình yêu, nhu cầu được chấp nhận, kết bạn và mở rộng các mối quan hệ xã hội. 15 Luan van (4) Nhu cầu được tôn trọng: là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng, có địa vị trong xã hội. (5) Nhu cầu hoàn thiện hay thể hiện bản thân: là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ và thoải mái sáng tạo.
Maslow cũng chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp. Nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn. Nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu xã hội, tôn trọng và cần hoàn thiện. Sự khác biệt giữa hai loại này là các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi đó các nhu cầu cấp cao lại được thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại của con người.
Ứng dụng lý thuyết nhu cầu con người của Maslow trong hoạt động quản trị nhân lực thì điều quan trọng là phải hiểu người lao động đang ở cấp độ nhu cầu nào. Từ sự hiểu biết đó cho phép nhà quản lý đưa ra các giải pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu của người lao động đồng thời bảo đảm đạt đến các mục tiêu tổ chức. - Đối với nhu cầu sinh lý: Trả lương tốt và công bằng, cung cấp bữa ăn trưa, ăn giữa giờ, giữa ca miễn phí; đảm bảo các phúc lợi… - Đối với nhu cầu về an toàn: Bảo đảm điều kiện làm việc thuận lợi, bảo đảm công việc được duy trì ổn định và chăm sóc sức khỏe tốt cho nhân viên (an toàn tính mạng, thu nhập, công việc,…) - Nhu cầu xã hội: Người lao động cần được tạo điều kiện làm việc theo nhóm, được tạo cơ hội để mở rộng giao lưu giữa các bộ phận, khuyến khích mọi người cùng tham gia ý kiến phục vụ sự phát triển doanh nghiệp hoặc tổ chức, các hoạt động vui chơi, giải trí nhân các ngày lễ kỷ niệm hoặc các kỳ nghỉ khác. - Nhu cầu tôn trọng: Người lao động cần được tôn trọng về nhân cách, phẩm chất, tôn trọng các giá trị của con người.
Do đó, cần có cơ chế và chính sách khen ngợi, tôn vinh sự thành công và phổ biến kết quả thành đạt của cá 16 Luan van nhân một cách rộng rãi. Đồng thời, người lao động cũng cần được cung cấp kịp thời thông tin phản hồi, đề bạt nhân sự vào những vị trí công việc mới có mức độ và phạm vi ảnh hưởng lớn hơn. - Nhu cầu hoàn thiện bản thân: Nhà quản lý cần cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân, người lao động cần được đào tạo và phát triển, cần được khuyến khích tham gia vào quá trình cải tiến trong tổ chức và được tạo điều kiện để nhân viên tự phát triển nghề nghiệp. Như vậy, sự hài lòng đối với công việc của nhân viên có vai trò rất quan trọng.
Chất lượng và hiệu quả công việc chỉ đạt được khi có sự hiểu biết lẫn nhau về sự hài lòng giữa nhà quản lý và nhân viên của họ. Do đó, nhà quản lý cần nghiên cứu và tìm hiểu cụ thể nhu cầu của nhân viên và có biện pháp hữu hiệu để đáp ứng nguyện vọng của nhân viên một cách hợp lý và có dụng ý.