Chương 1: Cơ sở khoa học về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Chương 2: Thực trạng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc tại Bệnh viện Trung Ương Huế. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao t thực tiễn Bệnh viện Trung Ương Huế. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO NGÀNH Y TẾ 1.
Một số khái niệm Nguồn nhân lực chất lƣợng cao 1. Nguồn nhân lực “Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực”, là hái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh.
Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là t ng thể nguồn lực của t ng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, inh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [25]. Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên [25]. 11 Theo T chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tu i có khả năng tham gia lao động.
Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tu i lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là t ng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động [25]. Dưới góc độ kinh tế phát triển: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tu i quy định có khả năng tham gia lao động.
Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là t ng số những người trong độ tu i lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được t họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là t ng số những người trong độ tu i lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Như vậy, theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: những người không có việc làm nhưng hông tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tu i lao động quy định nhưng đang đi học…[25].
Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể hiểu: nguồn nhân lực là t ng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó ết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng 12 tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước [25]. Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự t ng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tu i lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Nguồn nhân lực chất lượng cao 1. Khái niệm Cho đến nay vẫn chưa có hái niệm thống nhất cũng như những tiêu chí cơ bản để xác định thế nào là nguồn nhân lực chất lượng cao. Thế nhưng, theo Mác thì nguồn nhân lực chất lượng cao là: “Những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn” [1, tr. Ở đây, Mác muốn nói đến những con người có trình độ, có khả năng ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất.
Đại t điển kinh tế thị trường thì cho rằng: “nhân lực chất lượng cao là những người, trong điều kiện xã hội nhất định, có tri thức chuyên môn nhất 13 định, có năng lực và kỹ năng cao, với tính lao động sáng tạo của bản thân trong điều kiện thực tiễn hoạt động xã hội, có khả năng góp phần cống hiến nào đó đối với sự phát triển của xã hội, của nhân loại” [22, tr. Một số ý kiến hác thì xem: “Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đ i nhanh chóng của công nghệ sản xuất, có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” [3, tr. Thuật ngữ Nguồn nhân lực chất lượng cao (NNL CLC) lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng tại hội nghị Ban Chấp hành Trung ương hoá IX hi khẳng định: “Phát triển NNL CLC thông qua con đường phát triển giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ chính là khâu then chốt để nước ta vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển” [5]. T đó, thuật ngữ này được sử dụng khá ph biến để chỉ một bộ phận ưu tú của nguồn nhân lực.
“Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” [6, tr. 103] được xem là một trong ba hâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 mà Đảng ta đã xác định. Nó thể hiện chiến lược Việt Nam tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xem đó là bước đột phá nhằm tạo sự phát triển nhanh, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao có thể được hiểu như là một bộ phận nguồn nhân lực, kết tinh những gì tinh túy, chất lượng của nguồn nhân lực, là bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi, có năng lực sáng tạo, đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn, biết vận dụng tri thức, kỹ năng đã được đào tạo nhằm đem lại năng suất, chất 14 lượng và hiệu quả vào trong quá trình lao động sản xuất.
Mặt hác, đây còn là bộ phận lao động có sức khỏe, có phẩm chất tốt, có tác phong nghề nghiệp, có tính kỷ luật, tinh thần yêu nước, ý thức tình cảm dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và đạo đức trong nghề nghiệp. Trong thực tế, tùy t ng lĩnh vực, ngành nghề, có những người với sự đóng góp vượt trội, được xem là NNL CLC thông qua hệ thống các danh hiệu, chức danh, học vị do Nhà nước trao tặng như Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú, Thầy thuốc Nhân dân, Nghệ sĩ Nhân dân, Giáo sư, Phó giáo sư, tiến sĩ…; thông qua hệ thống cấp bậc trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng như tướng lĩnh, cấp tá.; trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao như iện tướng,…; trong các ngành nghề truyền thống như Nghệ nhân. Tựu chung lại, nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm chỉ những người lao động cụ thể, có trình độ lành ngành (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể, theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, lao động kỹ thuật lành nghề); có kỹ năng lao động giỏi và khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất kinh doanh; có sức khỏe và phẩm chất tốt; có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả cao. Tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao Theo Hồ Bá Thâm (2003), tiêu chí về lượng nhân lực chất lượng cao, nói chung phải là tốt nghiệp t cao đẳng - đại học trở lên, nhưng phải t loại khá - giỏi.