Luận văn Quản lý nhà nước phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Lào Cai - Trường Đại học

Nghiên cứu quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Lào Cai. Phân tích thực trạng, giải pháp và chính sách nhằm nâng cao chất lượng đội

Chuyên ngành

Quản lý nhà nước

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp
95
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước phát triển nguồn nhân lực y tế Lào Cai

Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ngành y tế Lào Cai là nhiệm vụ chiến lược. Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là khâu đột phá thứ hai. Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới với đặc thù riêng về địa hình và dân cư. Ngành y tế Lào Cai đã đạt được nhiều thành tựu. Đội ngũ cán bộ y tế không ngừng tăng cả về số lượng và chất lượng. Công tác đào tạo được thực hiện từ nhiều nguồn khác nhau. Các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện và xã đã được củng cố. Tuy nhiên, nhiều thách thức vẫn tồn tại. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng. Bệnh tật trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế. Công tác tuyển dụng và phát triển cán bộ còn nhiều bất cập. Quản lý nhà nước đóng vai trò trung tâm trong quá trình này. Nhà nước xây dựng chiến lược, chính sách và kế hoạch phát triển. Các cơ quan chức năng tổ chức thực hiện và giám sát. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.

1.1. Bối cảnh chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách quan trọng. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 đặt mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngành y tế được xác định là lĩnh vực ưu tiên đầu tư. Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế đã được triển khai. Chính sách thu hút bác sĩ về vùng sâu, vùng xa được đẩy mạnh. Hệ thống pháp luật về quản lý nhân lực y tế ngày càng hoàn thiện. Lào Cai nằm trong nhóm các tỉnh được ưu tiên hỗ trợ. Chính sách đặc thù cho vùng cao biên giới giúp thu hút nhân lực hiệu quả hơn.

1.2. Đặc điểm nguồn nhân lực y tế Lào Cai

Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới phía Bắc. Địa hình phức tạp với nhiều huyện miền núi. Dân cư phân tán, nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Những đặc điểm này tạo ra thách thức lớn cho công tác y tế. Nguồn nhân lực y tế Lào Cai được phân bổ ở ba tuyến. Tuyến tỉnh có các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa. Tuyến huyện có các bệnh viện huyện và trung tâm y tế. Tuyến xã có các trạm y tế xã, phường. Theo số liệu Sở Y tế, tổng số nhân lực y tế toàn tỉnh khoảng 3.488 người. Trong đó có 276 bác sĩ, 54 thạc sĩ. Tỷ lệ bác sĩ trên vạn dân còn thấp so với chuẩn quốc gia.

II. Thực trạng và thách thức phát triển nguồn nhân lực y tế Lào Cai

Thực trạng nguồn nhân lực y tế Lào Cai cho thấy nhiều vấn đề cần giải quyết. Số lượng nhân lực tăng nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Tỷ lệ bác sĩ trên vạn dân thấp hơn mức trung bình cả nước. Chất lượng nguồn nhân lực ở tuyến huyện, xã còn hạn chế. Thách thức đầu tiên là sự phân bố không đồng đều. Nhân lực tập trung ở tuyến tỉnh, thiếu hụt ở tuyến huyện và xã. Các huyện vùng cao như Si Ma Cai, Mường Khương gặp khó khăn trong tuyển dụng. Bác sĩ có trình độ cao ít muốn công tác tại vùng sâu. Thách thức thứ hai là trình độ chuyên môn. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật mới còn chậm. Trang thiết bị y tế hiện đại chưa được khai thác hiệu quả. Đào tạo liên tục cho cán bộ y tế chưa được tổ chức thường xuyên. Thách thức thứ ba liên quan đến cơ chế chính sách. Mức lương và đãi ngộ chưa hấp dẫn. Công tác tuyển dụng còn nhiều bất cập. Y đức cũng cần được quan tâm đúng mức. Những vấn đề này đòi hỏi giải pháp quản lý nhà nước hiệu quả.

2.1. Bất cập trong phân bổ và tuyển dụng nhân lực

Phân bổ nguồn nhân lực y tế Lào Cai đang mất cân đối nghiêm trọng. Tuyến tỉnh tập trung nhiều bác sĩ có trình độ cao. Tuyến huyện và xã thiếu hụt trầm trọng nhân lực chất lượng. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khám chữa bệnh. Công tác tuyển dụng còn nhiều bất cập. Tiêu chuẩn nghiệp vụ chưa phù hợp với đặc thù vùng cao. Quy trình tuyển dụng phức tạp, mất nhiều thời gian. Nhiều vị trí tuyển dụng không thu hút được ứng viên có trình độ. Chính sách thu hút bác sĩ về nông thôn, vùng sâu chưa phát huy hiệu quả. Mức hỗ trợ chưa đủ hấp dẫn so với điều kiện sống khó khăn.

2.2. Hạn chế về đào tạo và phát triển chuyên môn

Đào tạo nguồn nhân lực y tế Lào Cai còn nhiều hạn chế. Chương trình đào tạo liên tục chưa được tổ chức thường xuyên. Cơ hội học tập nâng cao trình độ cho cán bộ tuyến huyện, xã hạn chế. Kinh phí đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào khám chữa bệnh còn chậm. Trang thiết bị y tế hiện đại chưa được khai thác hết công suất. Nhân lực vận hành các thiết bị này chưa được đào tạo bài bản. Hợp tác đào tạo với các cơ sở y tế lớn ở Trung ương còn hạn chế. Chương trình đào tạo từ xa chưa được triển khai rộng rãi.

III. Giải pháp quản lý nhà nước phát triển nguồn nhân lực ngành y tế

Giải pháp quản lý nhà nước phát triển nguồn nhân lực y tế Lào Cai cần đồng bộ và toàn diện. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật. Các quy định về tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ cần được cập nhật. Chính sách đặc thù cho vùng cao biên giới cần được ban hành rõ ràng. Thứ hai, quy hoạch nguồn nhân lực y tế phải gắn với thực tiễn địa phương. Dự báo nhu cầu nhân lực theo từng tuyến và chuyên khoa. Xây dựng kế hoạch đào tạo dài hạn và ngắn hạn. Phân bổ nhân lực hợp lý giữa các tuyến khám chữa bệnh. Thứ ba, nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng. Tăng cường hợp tác với các trường đại học y khoa lớn. Triển khai đào tạo từ xa và đào tạo tại chỗ. Tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn ngắn hạn thường xuyên. Thứ tư, cải thiện chế độ đãi ngộ và thu hút nhân tài. Nâng mức lương và phụ cấp cho nhân viên y tế vùng khó khăn. Tạo điều kiện về nhà ở và sinh hoạt cho bác sĩ công tác tại huyện xa.

3.1. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và quy hoạch nhân lực

Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn nghiệp vụ là nhiệm vụ quan trọng. Tiêu chuẩn chức danh cho từng vị trí cần được ban hành cụ thể. Hệ thống tiêu chuẩn phải tính đến đặc thù lao động ngành y tế. Đây là căn cứ để tuyển dụng, đánh giá và bố trí nhân lực. Quy hoạch nguồn nhân lực phải dựa trên dự báo nhu cầu. Phân tích dữ liệu về bệnh tật và nhân khẩu học tại Lào Cai. Xác định nhu cầu nhân lực theo từng chuyên khoa và tuyến. Nhà nước cần thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Tránh tình trạng tuyển dụng và sử dụng lao động tùy tiện.

3.2. Chính sách đào tạo và thu hút nhân lực chất lượng cao

Chính sách đào tạo nguồn nhân lực y tế cần được đổi mới. Tăng cường liên kết đào tạo với các trường đại học y khoa. Triển khai chương trình đào tạo theo địa chỉ cho các huyện khó khăn. Hỗ trợ kinh phí đào tạo cho cán bộ y tế tuyến cơ sở. Chính sách thu hút bác sĩ về vùng cao cần cải thiện. Nâng mức hỗ trợ sinh hoạt phí và nhà ở công vụ. Tạo cơ hội thăng tiến và phát triển chuyên môn. Đào tạo liên tục phải trở thành yêu cầu bắt buộc. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng hàng năm cho từng nhóm cán bộ.

IV. Định hướng và ứng dụng phát triển nguồn nhân lực y tế Lào Cai

Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ngành y tế Lào Cai là nhiệm vụ cấp thiết. Kết quả nghiên cứu cho thấy ngành y tế tỉnh đã đạt được nhiều tiến bộ. Số lượng và chất lượng nhân lực không ngừng được cải thiện. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng nâng cao. Tuy nhiên, nhiều thách thức vẫn cần được giải quyết. Sự phân bố nhân lực không đồng đều giữa các tuyến. Trình độ chuyên môn ở tuyến cơ sở còn hạn chế. Chính sách đãi ngộ chưa đủ hấp dẫn để thu hút nhân tài. Các giải pháp đề xuất cần được triển khai đồng bộ. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách đặc thù. Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn. Cải thiện chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc. Tăng cường hợp tác đào tạo với các cơ sở y tế lớn. Ứng dụng các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Từ đó, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong giai đoạn mới. Phát triển bền vững ngành y tế Lào Cai là mục tiêu lâu dài.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu chính

Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước. Phân tích thực trạng nguồn nhân lực y tế Lào Cai. Đánh giá các chính sách hiện hành về phát triển nhân lực y tế. Xác định nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế. Kết quả cho thấy nguồn nhân lực y tế Lào Cai tăng cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, tỷ lệ bác sĩ trên vạn dân vẫn thấp. Sự phân bố nhân lực giữa các tuyến mất cân đối. Công tác đào tạo liên tục chưa được tổ chức thường xuyên. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cụ thể và khả thi.

4.2. Định hướng phát triển nguồn nhân lực y tế trong tương lai

Định hướng phát triển nguồn nhân lực y tế Lào Cai giai đoạn tới cần tập trung vào nhiều giải pháp. Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về nhân lực y tế. Tăng cường đầu tư cho đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn. Phát triển nguồn nhân lực phải gắn với chuyển đổi số trong ngành y tế. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và đào tạo. Nâng cao năng lực sử dụng trang thiết bị hiện đại cho nhân viên y tế. Đẩy mạnh khám chữa bệnh từ xa tại các huyện vùng cao. Hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực cần được mở rộng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ngành y tế luan van da sua luong 5 3 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của xã hội”.

Với cách hiểu này, nguồn nhân lực được xem xét ở phương diện chất lượng, vai trò và sức mạnh của con người đối với sự phát triển của xã hội. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình lao động và các thế hệ nối tiếp phục vụ cho xã hội. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển KTXH, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.

Theo sách “Một số nội dung về nguồn nhân lực và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực”, của TS Tạ Ngọc Hải, Viện Khoa học tổ chức Nhà nước, Bộ Nội vụ thì nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình và chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực và thế giới [22]. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, 5 tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh, phục vụ cho sự phát triển chung của các tổ chức. Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức. Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo giác độ nghiên cứu nhưng điểm chung mà ta dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên về nguồn nhân lực: - Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai.

Đấy là những câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (ví dụ xét về nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng só lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân; - Chất lượng nguồn nhân lực: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ.của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. - Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực.

Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi.Cơ cấu nguồn nhân lực của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định nhân lực. Chẳng hạn như cơ cấu nhân lực lao động trong khu vực kinh tế tư nhân của các nước trên thế giới phổ biến là 5-3-1 cụ thể là 5 công nhân kỹ thuật, 3 trung cấp và 1 kỹ sư; đối với nước ta cơ cấu này có phần ngược là số người có trình độ đại học, trên đại học nhiều hơn số công nhân kỹ thuật. Hay cơ cấu nhân lực về giới tính trong khu vực công của nước ta cũng có những biểu hiện của sự mất cân đối. 6 Như vậy, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển nguồn người lao động nói chung ở cả hiện tại cũng như trong tương lai tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới.

Đó là những khái niệm về nguồn nhân lực nói chung, cụ thể trong đó còn bao gồm các khái niệm đó là: - Nguồn nhân lực xã hội: Nguồn nhân lực xã hội (human resources) là toàn bộ số người có thể làm việc khi cần thiết. Theo Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực xã hội, Học viện Hành chính quốc gia, Nxb. Khoa học và kỹ thuật Hà Nội năm 2008 thì nguồn nhân lực xã hội là dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động. Trong một số tài liệu, bên cạnh nguồn nhân lực (con người) còn sử dụng thuật ngữ nguồn lực.

Nguồn lực của quốc gia bao gồm không chỉ nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà còn kể đến con người. Tuy nhiên, khi nói đến nguồn lực, thông thường nhiều người nói đến số lượng, sức mạnh vật chất (manpower) hơn là quản lý hay chất lượng của con người trong tổ chức. Điều đó cũng có nghĩa nguồn lực chỉ mới đề cập đến một mặt của nguồn nhân lực, chưa đề cập đến việc khai thác, sử dụng nguồn nhân lực, tức là chưa đề cập đến việc quản lý nguồn nhân lực [23]. - Nguồn nhân lực trong một tổ chức: Nguồn nhân lực của một tổ chức là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực của xã hội [23].

Hay nói khác đi, nguồn nhân lực của tổ chức là hệ con của hệ thống nguồn nhân lực xã hội. Đó là tất cả những ai làm việc trong tổ chức, từ thủ trưởng cao nhất đến nhân viên bình thường nhất, thấp nhất, làm việc tay chân, đơn giản. Đó cũng là người đang chờ đợi để có thể vào làm việc cho tổ chức, tức là nguồn dự trữ của tổ chức. Nguồn nhân lực của một tổ chức là một thuật ngữ được sử dụng để phân biệt với nhiều loại nguồn lực khác của tổ chức như quyền lực, tài lực (tài chính) vật lực (trang thiết bị, máy móc nhà xưởng).

Nguồn nhân lực của tổ chức, quốc gia cần phân biệt với nguồn lao động. Một tổ chức, một cơ quan hay quốc gia muốn phát triển được phải có 7 đủ nguồn nhân lực cần thiết, đáp ứng mục tiêu phát triển tổ chức, quốc gia. Như vậy, nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau: + Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư trong xã hội có khả năng lao động. + Với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế xã hội thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội.

+ Với tư cách là tổng thể cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động thì nguồn nhân lực bao gồm cả yếu tố về thể lực và trí lực của những người từ 15 tuổi trở lên. + Với tư cách là nguồn nhân lực của tổ chức thì chỉ bao gồm những người làm việc cho tổ chức và những người đang chờ đợi để vào làm cho tổ chức (lao động tiềm năng). - Nguồn nhân lực hoạt động kinh tế - lực lượng lao động xã hội 1. Nguồn nhân lực ngành y tế - Nguồn nhân lực công chức lãnh đạo, quản lý: Bao gồm có cả công chức, viên chức.

Giữ chức vụ trong các cơ quan Quản lý Nhà nước về Y tế từ cấp Bộ trở xuống đến Trưởng phòng y tế. Trong các ngạch công chức, viên chức ngành Y tế, nguồn nhân lực y tế được quy định tại Quyết định số 415/TCCP - VC ngày 29/5/1993 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch công chức ngành y tế, cụ thể: - Bác sỹ trong đó có bác sỹ cao cấp, bác sỹ chính, bác sỹ: Bác sỹ là công chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện phòng bệnh, chữa bệnh, vệ sinh phòng dịch nhằm bảo vệ, tạo ra và nâng cao sức khỏe cho các đối tượng phục vụ (tùy theo nhu cầu và khả năng có thể ở vị trí độc lập công tác, hoặc dưới sự chỉ đạo của Bác sỹ chính, Bác sỹ cao cấp, đều hoàn thành tốt nhiệm vụ theo lĩnh vực được phân công. Yêu cầu đối với bác sỹ tốt nghiệp 8 Đại học y; Bác sỹ chính: tốt nghiệp đại học y, có thâm niên 9 năm và bác sỹ chuyên khoa I, Thạc sỹ, Phó tiến sỹ; Bác sỹ cao cấp: Tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa II, Tiến sỹ y học, có thâm niên ngạch 6 năm. - Y sỹ: Là công chức chuyên môn kỹ thuật thuộc hệ khám và chữa bệnh của ngành y tế, thực hiện phòng bệnh, khám chữa bệnh thông thường, vệ sinh phòng dịch ở tuyến y tế cơ sở hoặc các bệnh viện huyện.

Tốt nghiệp Trung cấp y. - Lương y: Là công chức chuyên môn kỹ thuật hệ y học cổ truyền của ngành y tế, làm việc tại các tổ chức Nhà nước, có chức năng khám, chữa bệnh theo y học cổ truyền, thực hiện phòng bệnh, chữa bênh, phục hồi chức năng, góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm bảo vệ, tạo ra và nâng cao sức khỏe cho các đối tượng phục vụ. - Y tá: Là công chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, trực tiếp chăm sóc phục vụ người bệnh tại các cơ sở y tế. Tốt nghiệp y tá sơ cấp, trung cấp trở lên.

- Nữ hộ sinh (Nữ hộ sinh chính, Nữ hộ sinh cao cấp, Nữ hộ sinh): Là công chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, trực tiếp chăm sóc sản phụ và thai nhi tại các trạm y tế, các nhà hộ sinh hoặc các khoa sản của bệnh viện Huyện (Trung tâm Y tế Huyện). - Kỹ thuật viên y (kỹ thuật viên y chính, kỹ thuật viên y cao cấp, kỹ thuật viên y): Là công chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện các kỹ thuật lâm sàng và lâm sàng theo từng lĩnh vực chuyên khoa tại các cơ sở y tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ