Luận văn QLNN về công tác thanh niên dân tộc thiểu số tại An Lão

Dưới đây là meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Phân tích thực trạng công tác thanh niên là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý nhà nước

Tác giả

Đinh Văn Nghin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

133
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước công tác thanh niên dân tộc thiểu số huyện An Lão

Quản lý nhà nước về công tác thanh niên là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định đóng vai trò then chốt trong phát triển bền vững cộng đồng. Đối tượng nghiên cứu chính là thanh niên thuộc các dân tộc H’re, Bana và Kinh sinh sống tại đây. Huyện An Lão có điều kiện địa lý đặc thù với địa hình đồi núi, giao thông khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến tiếp cận giáo dục, việc làm và dịch vụ công. Theo số liệu thống kê, dân số thanh niên chiếm khoảng 25% tổng dân số toàn huyện, trong đó thanh niên dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ đáng kể. Chính sách quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, hỗ trợ đào tạo nghề và nâng cao chất lượng cuộc sống. Việc nghiên cứu đề tài này góp phần đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, đáp ứng nhu cầu phát triển của thanh niên địa phương.

1.1. Khái niệm và vai trò quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về công tác thanh niên được hiểu là hoạt động điều hành, kiểm soát của các cơ quan nhà nước nhằm triển khai chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên. Đối với thanh niên dân tộc thiểu số, quản lý nhà nước cần chú trọng đặc thù văn hóa, ngôn ngữ và điều kiện sống. Các cơ quan như Ủy ban nhân dân huyện, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách, giám sát hiệu quả. Vai trò quản lý thể hiện qua việc xây dựng kế hoạch, phân bổ nguồn lực, tổ chức đào tạo và tuyên truyền. Đặc biệt, quản lý nhà nước cần phối hợp chặt chẽ với cộng đồng dân tộc để đảm bảo sự tham gia tích cực của thanh niên.

1.2. Bối cảnh xã hội huyện An Lão

Huyện An Lão có cộng đồng dân cư đa dạng với ba dân tộc chính: H’re, Bana và Kinh. Dân số năm 2019 đạt 27.837 người, trong đó thanh niên chiếm tỷ lệ cao. Địa bàn huyện chủ yếu là đồi núi, giao thông hạn chế, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt tại các xã vùng sâu. Thanh niên dân tộc thiểu số gặp khó khăn trong tiếp cận giáo dục, việc làm và các dịch vụ y tế. Chính quyền địa phương đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng hiệu quả chưa cao do thiếu nguồn lực và sự phối hợp liên ngành.

II. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về thanh niên dân tộc thiểu số

Thực trạng quản lý nhà nước về thanh niên dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện An Lão cho thấy nhiều tồn tại cần khắc phục. Cơ chế phối hợp giữa các cấp, ngành còn lỏng lẻo, dẫn đến chồng chéo trong triển khai chính sách. Nguồn lực đầu tư cho thanh niên hạn chế, đặc biệt trong đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Theo báo cáo, tỷ lệ thanh niên dân tộc thiểu số tham gia học nghề chỉ đạt 30%, thấp hơn mức trung bình toàn huyện. Công tác thanh tra, kiểm tra thiếu thường xuyên, dẫn đến tình trạng vi phạm chính sách chưa được phát hiện kịp thời. Thanh niên gặp khó khăn trong tiếp cận vốn vay, hỗ trợ sản xuất do thủ tục hành chính phức tạp. Bên cạnh đó, nhận thức của thanh niên về chính sách còn hạn chế, dẫn đến thiếu động lực tham gia các chương trình hỗ trợ.

2.1. Đánh giá chính sách hiện hành

Chính sách hiện hành về thanh niên dân tộc thiểu số tập trung vào đào tạo nghề, hỗ trợ vốn sản xuất và bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả triển khai chưa cao do thiếu sự đồng bộ giữa các cấp. Ví dụ, chương trình đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số có nhiều khóa học, nhưng tỷ lệ học viên hoàn thành thấp do không phù hợp với nhu cầu thị trường. Chính sách hỗ trợ vốn vay gặp khó khăn trong khâu thẩm định, giải ngân chậm. Công tác tuyên truyền chính sách còn hạn chế, đặc biệt tại vùng sâu vùng xa. Cần tăng cường giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách để điều chỉnh kịp thời.

2.2. Thực trạng hoạt động của thanh niên

Thanh niên dân tộc thiểu số tại An Lão chủ yếu tham gia sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp thấp. Theo thống kê, 70% thanh niên dân tộc thiểu số sống tại vùng nông thôn, thu nhập chủ yếu từ trồng trọt và chăn nuôi. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp cao, đặc biệt tại các xã vùng cao. Hoạt động Đoàn Thanh niên địa phương có nhiều khởi sắc, nhưng thiếu sự gắn kết với cộng đồng dân tộc. Thanh niên ít tham gia các phong trào tình nguyện, hoạt động xã hội do thiếu thời gian và nhận thức. Nhiều thanh niên di cư đến thành phố tìm việc làm, nhưng gặp khó khăn trong hòa nhập do rào cản ngôn ngữ và văn hóa.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên dân tộc thiểu số, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa Ủy ban nhân dân, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên và các tổ chức xã hội. Tăng cường đầu tư nguồn lực cho đào tạo nghề, tập trung vào ngành nghề phù hợp với thị trường lao động địa phương. Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hỗ trợ vốn vay, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên tiếp cận tín dụng. Tổ chức tuyên truyền chính sách bằng ngôn ngữ dân tộc, tăng cường hoạt động Đoàn Thanh niên tại cộng đồng. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo, trao đổi kinh nghiệm quản lý thanh niên. Đánh giá định kỳ hiệu quả chính sách để điều chỉnh kịp thời, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế địa phương.

3.1. Nâng cao năng lực cán bộ quản lý

Cán bộ quản lý nhà nước về thanh niên cần được đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng giao tiếp đa văn hóa. Tổ chức các khóa tập huấn về quản lý thanh niên dân tộc thiểu số, tập trung vào kỹ năng lập kế hoạch, giám sát và đánh giá. Tăng cường phối hợp với các chuyên gia trong lĩnh vực dân tộc học, xã hội học để hiểu rõ đặc thù văn hóa địa phương. Đánh giá định kỳ năng lực cán bộ, khuyến khích học tập nâng cao trình độ. Xây dựng hệ thống thông tin quản lý thanh niên, đảm bảo dữ liệu cập nhật, chính xác. Nâng cao trách nhiệm giải trình của cán bộ trong triển khai chính sách.

3.2. Phát triển mô hình hỗ trợ thanh niên

Mô hình hỗ trợ thanh niên cần đa dạng, phù hợp với điều kiện địa phương. Xây dựng các trung tâm đào tạo nghề tại vùng sâu vùng xa, tập trung vào ngành nghề như trồng trọt, chăn nuôi, thủ công mỹ nghệ. Tổ chức các câu lạc bộ thanh niên, khuyến khích tham gia hoạt động xã hội, tình nguyện. Tạo điều kiện cho thanh niên tiếp cận vốn vay ưu đãi, hỗ trợ khởi nghiệp. Phát triển mô hình hợp tác xã thanh niên, giúp thanh niên tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức của thanh niên về chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy quản lý nhà nước về thanh niên dân tộc thiểu số tại huyện An Lão còn nhiều hạn chế, cần sớm khắc phục để đáp ứng nhu cầu phát triển. Những tồn tại chủ yếu là thiếu sự phối hợp liên ngành, nguồn lực hạn chế, nhận thức của thanh niên còn thấp. Đề tài đã đề xuất các giải pháp như hoàn thiện cơ chế phối hợp, tăng cường đầu tư đào tạo nghề, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Việc triển khai các giải pháp cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng dân tộc, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong xây dựng kế hoạch phát triển thanh niên của huyện An Lão, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm nghèo bền vững. Các cơ quan chức năng cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá hiệu quả chính sách để điều chỉnh kịp thời.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về thanh niên dân tộc thiểu số tại huyện An Lão. Những kết quả thu được bao gồm nhận diện các tồn tại trong cơ chế phối hợp, nguồn lực đầu tư và nhận thức của thanh niên. Đề tài cũng đề xuất các giải pháp thiết thực như nâng cao năng lực cán bộ, phát triển mô hình hỗ trợ thanh niên. Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách địa phương, đảm bảo phù hợp với đặc thù văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội. Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, đáp ứng nhu cầu phát triển của thanh niên địa phương.

4.2. Khuyến nghị chính sách

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên dân tộc thiểu số, cần triển khai đồng bộ các khuyến nghị chính sách. Trước hết, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, tăng cường trách nhiệm của các cấp, ngành. Tăng cường đầu tư nguồn lực cho đào tạo nghề, tập trung vào ngành nghề phù hợp với thị trường lao động địa phương. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên tiếp cận chính sách. Tổ chức tuyên truyền chính sách bằng ngôn ngữ dân tộc, tăng cường hoạt động Đoàn Thanh niên tại cộng đồng. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm quản lý thanh niên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý công quản lý nhà nước về công tác thanh niên là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện an lão tỉnh bình định

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG VIỆC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm thanh niên Thanh niên theo cách hiểu thông thƣờng là thuật ngữ chỉ những ngƣời đang trong độ tuổi đẹp nhất của đời ngƣời, với vẻ thanh tao, thuần khiết và sức trẻ dồi dào. Trong đời sống hằng ngày và trong nghiên cứu khoa học, thuật ngữ thanh niên đƣợc dùng rất rộng rãi, tùy thuộc vào nội dung và góc độ tiếp cận mà ngƣời ta đƣa ra các khái niệm khác nhau về thanh niên.

Trong đời sống thanh niên hay đƣợc dùng với từ: “cậu, cô, anh, chị,… thanh niên”, hoặc ghép với những từ nhƣ: thanh niên trai tráng, thanh niên trai trẻ,… hay trong thời đại công nghệ 4.0, ngƣời ta còn dùng từ “thanh niên cứng”, “thanh niên tuổi teen”,… cũng là để chỉ ngƣời trẻ, đang trong độ tuổi trƣởng thành, với sức lực dồi dào. Theo từ Điển Wikipedia tiếng Việt, thanh niên hay còn gọi là ngƣời trẻ hoặc ngƣời trẻ tuổi, là thuật ngữ chung chỉ một ngƣời trong độ tuổi từ khoảng 18-20 cho đến những năm 30 tuổi; Mặc dù các định nghĩa và quan điểm về độ tuổi này vốn rất đa dạng, phong phú, ví dụ nhƣ lý thuyết các giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của nhà tâm lý học Erik Erikson ngƣời Mỹ gốc Đức, tuổi thanh niên trong quá trình trƣởng thành của con ngƣời là giai đoạn trƣớc khi bƣớc vào tuổi trung niên. Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tƣ cách là một công dân có trách nhiệm.

Dƣới góc độ kinh tế học, thanh niên đƣợc xem là một lực lƣợng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội 12 ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực. Với các triết gia, văn nghệ sĩ, thanh niên lại đƣợc định nghĩa bằng cách so sánh hình tƣợng: “thanh niên là mùa xuân của xã hội” là “bình minh của cuộc đời”. Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân, … mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau. Nhƣng hầu hết các nƣớc trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16.

Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt. Có nƣớc quy định là 25 tuổi, có nƣớc quy định là 30 tuổi và cũng có nƣớc cho đó là tuổi 40. Nhƣng xu hƣớng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên. Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm ngƣời từ 15 đến 24 tuổi chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác.

Nhƣng cũng Công ƣớc quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em lại xác định trẻ em đến dƣới 18 tuổi. Ở Việt Nam, Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25 tháng 7 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng, Khóa X khẳng định: “Thanh niên là lực lƣợng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tƣơng lai, vận mệnh dân tộc; là lực lƣợng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình [6]. Về độ tuổi thanh niên, Điều 1, Luật thanh niên năm 2020 định nghĩa: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi” [26].

Tuy nhiên cần phải phân biệt rõ tuổi đoàn viên và tuổi thanh niên. Theo điều lệ Đoàn thì Đoàn là một tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên, bao gồm những thanh niên ƣu tú trong độ tuổi từ 16 đến 30. Hết tuổi đoàn viên theo quy định, ngƣời đoàn viên đó vẫn có thể tự nguyện tiếp tục sinh hoạt trong tổ chức Đoàn hoặc tham gia vào Hội liên hiệp thanh niên và các hoạt động khác của Đoàn và phong trào thanh niên đến 35 tuổi. 13 Để nhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tƣơng đối toàn diện, có thể bao hàm đƣợc các nội dung, ý nghĩa nêu trên, trong phạm vi đề tài này thanh niên được hiểu là một lực lượng xã hội to lớn, ở độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình; có mặt trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, có tính tình nguyện, tính tự giác trong mọi hoạt động, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội hiện tại và tương lai.

Công tác thanh niên Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên giải thích “Công tác thanh niên là những hoạt động của Đảng, Nhà nƣớc và xã hội nhằm giáo dục, bồi dƣỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu và trƣởng thành, đồng thời phát huy vai trò xung kích, sức sáng tạo và tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [10]. Luật Thanh niên số 57/2020/QH14, ngày 16 tháng 6 năm 2020 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua, Luật này thay thế Luật Thanh niên số 53/2005/QH11 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021. Trong Luật Thanh niên số 57/2020/QH14, ngày 16 tháng 6 năm 2020 đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của thanh niên, quy định nguồn lực thực hiện chính sách đối với thanh niên, quy định trách nhiệm của các bộ, ngành, của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, cơ sở giáo dục, gia đình đối với thanh niên. Chính vì vậy, vấn đề thanh niên và công tác thanh niên luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc hết sức coi trọng và đặt niềm tin sâu sắc vào lực lƣợng thanh niên.

Ở nƣớc ta, công tác thanh niên đƣợc xác định là một bộ phận quan trọng trong công tác Dân vận của Đảng, là quá trình giáo dục, thuyết phục và vận động thanh niên tham gia thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng. 14 Theo đó, Đảng lãnh đạo công tác thanh niên thông qua chủ trƣơng, đƣờng lối mà Đảng đã định hƣớng cho sự phát triển của lực lƣợng thanh niên trên cơ sở xác định nhu cầu và yêu cầu phát triển của xã hội. Các cơ quan của bộ máy nhà nƣớc thực hiện công tác thanh niên thông qua việc hoạch định, ban hành, tổ chức thực hiện, đầu tƣ ngân sách và giám sát, kiểm tra, xử lý những sai phạm trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật dành cho thanh niên; Các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức khác cùng toàn xã hội tiến hành công tác thanh niên thông qua tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách, pháp luật dành cho thanh niên, tham gia giáo dục, định hƣớng, tạo lập môi trƣờng sống ổn định, hỗ trợ thanh niên trong lập thân, lập nghiệp,. Từ những phân tích trên, tác giả nhìn nhận: Công tác thanh niên là những hoạt động của các chủ thể trong xã hội bao gồm Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, mà trong đó Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là nòng cốt, nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để thanh niên được học tập, rèn luyện, cống hiến và trưởng thành.

Khái niệm quản lý nhà nước Theo Giáo trình Lý luận Hành chính nhà nƣớc: “quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [14, tr. Nhƣ vậy quản lý nhà nƣớc đƣợc hiểu là cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền sử dụng bộ máy, công cụ của mình để quản lý tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại một cách có hiệu quả. Khái niệm quản lý nhà nước về công tác thanh niên Cho đến nay “Quản lý nhà nƣớc về công tác thanh niên” vẫn là khái niệm chƣa thống nhất, theo một số tác giả: - Từ góc độ chức năng của quản lý nhà nƣớc đã đƣa ra khái niệm sau: Quản lý nhà nƣớc về công tác thanh niên là hoạt động xây dựng thể chế có liên quan đến thanh niên, là sự quản lý của các cơ quan nhà nƣớc theo các chế định pháp luật, chính sách để điều chỉnh, phối hợp thống nhất việc triển khai nhiệm vụ công tác thanh niên của các tổ chức, lực lƣợng trong xã hội nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của Đảng về công tác giáo dục, bồi dƣỡng và phát huy lực lƣợng thanh niên [20, tr. - Từ góc độ thực thi nhiệm vụ của quản lý nhà nƣớc thì “Quản lý nhà nƣớc về công tác thanh niên là hoạt động quản lý nhà nƣớc trong phạm vi những công việc về giáo dục, hành chính, tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc có liên quan đến thanh niên”, “là hoạt động điều hành của nhà nƣớc về sự phối hợp tất cả các cơ quan, bộ máy hoặc đoàn thể có liên quan đến công tác thanh niên; đặt công tác thanh niên trong sự thống nhất có sự quan tâm toàn diện và sự chi phối của nhà nƣớc” [12, tr.

Những quan điểm trên đã chỉ ra đƣợc chức năng và nhiệm vụ của một số chủ thể trong quản lý nhà nƣớc đối với công tác thanh niên, tuy nhiên chƣa phản ánh một cách toàn diện và đầy đủ nội hàm của quản lý nhà nƣớc về công tác thanh niên trong thực tiễn Việt Nam. Bởi vì, công tác thanh niên là hoạt động của các chủ thể trong xã hội bao gồm Đảng, Nhà nƣớc, các tổ chức chính trị – xã hội, mà trong đó Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là nòng cốt và của toàn xã hội tác động tổng hợp qua lại lên đối tƣợng là thanh niên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ