mở đầu có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ, là cơ sở để tiến hành việc bố trí, sử dụng và thực hiện các chính sách cán bộ. Việc đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã phải dựa vào tiêu chuẩn cán bộ và lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao làm thước đo chủ yếu. Tuy nhiên, đánh giá cán bộ đang là khâu khó nhất trong công tác cán bộ, vì vậy phải đổi mới về quan điểm đánh giá cán bộ, có cơ chế đánh giá khoa học, khách quan, dân chủ, công bằng, thúc đẩy họ vươn lên, phát huy tài năng trí tuệ để đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chất lượng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt được xác định trên cơ sở tiêu chí về phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ nói chung và của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã nói riêng, về khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Về phẩm chất chính trị: Phẩm chất chính trị là tiêu chuẩn được đặt lên hàng đầu, có tính chất quyết định đến chất lượng hoạt động của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt. Phẩm chất chính trị là yêu cầu cơ bản của mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt trong các giai đoạn khác nhau. Phẩm chất chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã được biểu hiện trước hết là sự tin tưởng tuyệt đối với lý tưởng cách mạng, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của đảng, pháp luật của Nhà nước; quyết tâm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của đảng và Nhà nước, tổ chức thực hiện sát hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương. Phẩm chất chính trị là lòng nhiệt tình cách 14 mạng, lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng của đảng, với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần tận tụy với công việc, hết lòng hết sức vì sự nghiệp của nhân dân.
Phẩm chất chính trị là bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và con đường đi lên CNXH. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã có phẩm chất chính trị tốt là người phải có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác, không thờ ơ, không dửng dưng trước những vấn đề bức xúc về kinh tế - xã hội, luôn trăn trở trước những yếu kém, hạn chế của địa phương so với sự phát triển của đất nước; quyết tâm tìm cách tháo gỡ khó khăn và giải quyết những vấn đề bức xúc của địa phương, đưa địa phương nơi mình công tác ngày càng phát triển. Phẩm chất chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã còn thể hiện ở ý thức tuân thủ kỷ luật đảng, luôn đi đầu trong chấp hành các chính sách, pháp luật của Nhà nước, kiên quyết chống lại mọi lệch lạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội đi trái ngược với đường lối, chủ trương của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Về phẩm chất đạo đức: Người cán bộ muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân dân, trước hết đó phải là người cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt.
Xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ và hình thành ở họ các phẩm chất đạo đức tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ là việc làm cần thiết và cấp bách, nhất là trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang có sự chuyển biến nhanh chóng và xã hội xuất hiện nhiều vấn đề hết sức phức tạp, trình độ dân trí ngày một nâng cao, và sự đòi hỏi của xã hội đối với đội ngũ cán bộ cũng ngày càng cao hơn. Thêm vào đó, công tác quản lý xã hội cũng đòi hỏi người cán bộ phải tạo lập cho mình có được uy tín cao nhất đối với nhân dân. Người cán bộ tốt ở đây phải là người có đủ cả năng lực trình độ lẫn đạo đức cách mạng và muốn có đạo đức cách mạng, mỗi người cán bộ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì phải có được các phẩm chất trí, tín, nhân, dũng, liêm. Khi 15 nói chuyện với anh, chị em ở Thủ đô, Bác đã nhắc nhở: Chúng ta phải cố gắng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Theo Bác: Trước hết là cần, tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ là công tác giả. Kiệm tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của nhân dân.
Liêm tức là không tham ô và luôn tôn trọng, giữ gìn của công. Chính tức là việc phải thì dù nhỏ cũng làm, việc trái thì dù nhỏ cũng tránh. Về trình độ năng lực: Năng lực là một khái niệm rộng, tùy thuộc vào môi trường, trách nhiệm, vị thế của mỗi người, mỗi cán bộ trong những điều kiện cụ thể. Năng lực được xem như là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành”, khi nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu.
“Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kỹ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể”. Theo Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế, Ủy ban Hỗ trợ phát triển, cụm từ “năng lực” được hiểu là: “Toàn bộ khả năng của con người, tổ chức và xã hội để thực hiện thành công công việc”. Trong các nỗ lực làm rõ nghĩa của “năng lực”, khía cạnh quan trọng đầu tiên liên quan tới năng lực của ai (hoặc của cái gì). Mặc dù có sự khác nhau về thuật ngữ giữa các tài liệu, vẫn có sự thừa nhận chung rằng, năng lực được thể hiện ở ba cấp độ: cá nhân, tổ chức và môi trường xung quanh.
Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp, kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại, cho đến nay, về cơ bản có ba loại chính: Năng lực tổng thể: được hình thành và phát triển nhờ quá trình được giáo dục và đào tạo, mỗi năng lực tổng thể cần: - Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; 16 Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người. Để nhận diện năng lực tổng thể, Hội đồng châu Âu (EU) đưa ra ba tiêu chí: Thứ nhất, là khả năng hữu ích của năng lực ấy đối với tất cả các thành viên cộng đồng. Chúng phải liên quan đến tất cả mọi người, không kể giới tính, giai cấp, nòi giống, văn hóa, ngôn ngữ và hoàn cảnh gia đình. Thứ hai, nó phải tuân thủ (phù hợp) với các giá trị đạo đức, kinh tế, văn hóa và các quy ước xã hội.
Thứ ba, yếu tố quyết định là bối cảnh, trong đó các năng lực cơ bản sẽ được ứng dụng.Theo hướng tiếp cận năng lực, hiện nay, có trên 35 năng lực khác nhau, năng lực tư duy đặc biệt quan trọng, là cốt lõi của nhiều hoạt động trí tuệ, bao gồm các yếu tố như: giải quyết vấn đề, quyết định, phê phán, phát triển lập luận và sử dụng các chứng cứ chứng minh cho lập luận của mình. Năng lực cá nhân: Năm 2006, UNDP giải thích rằng, ở cấp độ cá nhân, năng lực là những kỹ năng và kiến thức của mỗi con người. Khác với năng lực tổng thể, năng lực cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó của cá nhân. Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu, song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân).
Năng lực cao đạt được những thành tựu hoàn thiện, xuất sắc, mới mẻ, có ý nghĩa xã hội, gọi là tài năng. Tài năng đặc biệt làm nên kì tích trong hoạt động sáng tạo, vượt lên trên mức bình thường được gọi là thiên tài. Năng lực tổ chức: theo WHO năm 2009, có ba lĩnh vực lớn cần được xem xét với mỗi tổ chức: điều hành và lãnh đạo; nguồn lực; truyền thông và mạng lưới. Điều hành chủ yếu đề cập tới cách điều hành tổ chức - cả hệ thống 17 điều hành bên trong (tài chính, nhân lực, quản lý thông tin,.) và sự điều hành trách nhiệm bên ngoài thông qua các cơ chế.
Cả điều hành và lãnh đạo đều ảnh hưởng tới việc năng lực tổ chức được phát triển, duy trì, hoặc đo lường được. Do đó, năng lực lãnh đạo và điều hành trong một tổ chức chứa đựng rất nhiều thành phần của đời sống tổ chức, bao gồm tầm nhìn chung, “thái độ” và tính đồng nhất của tổ chức - tất cả đều rất quan trọng để tổ chức có thể nhìn nhận bản thân nó hay nó được nhìn nhận bởi các tổ chức khác như thế nào [9]. Nguồn lực thích hợp và bền vững trong một tổ chức đóng vai trò quan trọng, bao gồm đội ngũ cán bộ đầy đủ, được đào tạo, thúc đẩy và hỗ trợ phù hợp; các nguồn vốn sẵn có và đáng tin cậy. Truyền thông và mạng lưới bao gồm năng lực của tổ chức trong việc truyền đạt về công việc của họ, phát triển và gìn giữ mối quan hệ với các tổ chức khác, khả năng của tổ chức trong việc hoạt động trong và/hoặc phát triển mạng lưới (gồm cả mạng lưới thực hoặc ảo, địa phương hoặc toàn cầu).
Yêu cầu đặt ra hiện nay là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân. Họ phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tận tụy phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, xây dựng được lòng tin trong nhân dân, cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực không cơ hội, không tham nhũng quan liêu và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng.