CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Một số khái niệm về động lực và tạo động lực làm việc 1. Cán bộ Trong các văn bản của Nhà nước ta ghi rõ: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức Tương tự như trên, Nhà nước ta qui định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Động lực Từ trước đến nay có khá nhiều quan niệm, cách tiếp cận về phạm trù động lực về phương diện xã hội. Theo từ điển tiếng Việt “động lực là cái thúc đẩy, làm cho phát triển” Cụ thể hơn, theo Higgins 1994 thì động lực là lực đẩy từ nhu cầu bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Hay như Maier và Lawler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc là một hàm số của năng lực và động lực làm việc. Trong đó, năng lực làm việc phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh; kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm có được thông qua đào tạo; các nguồn lực để thực hiện công việc.
Luan 6van Còn Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân thì lý giải “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức ”. Điều này phản ánh một thực tế: Có nhiều khái niệm về động lực làm việc, mỗi khái niệm đều có những quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều nói lên được bản chất của động lực làm việc. Đó là khi cán bộ, công chức có động lực làm việc sẽ dồn hết khả năng để hoàn thành một cách có hiệu quả công việc được giao, giúp cơ quan, tổ chức đạt được mục tiêu kinh doanh. Động lực làm việc của cán bộ, công chức luôn gắn với lợi ích mà họ đạt được.
Lợi ích mà họ đạt được càng cao thì động lực làm việc càng lớn. Vậy động lực làm việc được hiểu như thế nào? Từ những nghiên cứu trên, theo quan niệm của tác giả có thể hiểu: “Động lực là lực đẩy bên trong bản thân mỗi cá nhân nỗ lực làm việc với sự khao khát và tự nguyện nhằm đáp ứng những nhu cầu của cá nhân chưa được thỏa mãn và mục tiêu chưa đạt được của tổ chức”. Như vậy, động lực làm việc được thể hiện ở trong chính thái độ của cán bộ, công chức đối với công việc, đối với tổ chức. Để có được động lực cho cán bộ, công chức làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó bằng cách tìm hiểu được cán bộ, công chức làm việc nhằm mục đích gì, lợi ích của bản thân họ chỉ đạt được khi lợi ích của cơ quan, tổ chức đạt được.
Tạo động lực Theo tác giả Trần Kim Dung cho rằng “Tạo động lực làm việc là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của cán bộ, công chức cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức” Còn theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân “Động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của cán bộ, công chức để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. Như vậy, động lực làm việc được thể hiện ở trong chính thái độ của cán bộ, công chức đối với công việc, đối với tổ chức. Để có được động lực cho cán bộ, công chức làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó bằng cách tìm hiểu được cán bộ, công chức làm việc nhằm mục đích gì, lợi ích của bản thân cán bộ, công chức chỉ đạt được khi lợi ích của tổ chức đạt được. Luan 7van Trên cơ sở nghiên cứu những luận giải trên, theo quan điểm của tác giả thì “tạo động lực làm việc là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp nhằm khuyến khích, thúc đẩy sự khao khát, tinh thần tự giác, tự nguyện của cán bộ, công chức để họ phấn đấu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về vật chất và tinh thần”. Như vậy, tạo động lực làm việc là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức. Các nhà quản lý của tổ chức phải xây dựng hệ thống các chính sách, biện pháp trong quá trình quản lý nguồn nhân lực nhằm tác động đến cán bộ, công chức giúp họ có động cơ, động lực làm việc để tăng năng suất lao động, hiệu quả lao động, đồng thời giúp cán bộ, công chức tự hoàn thiện bản thân, phát huy sáng tạo trong quá trình lao động. Việc tạo động lực làm việc nói chung và việc tạo động lực làm việc tại Sở Thông tin và Truyền thông Đồng Tháp nói riêng sẽ giải quyết được lợi ích kép cho việc thực hiện công việc của cán bộ, công chức và hiệu quả của tổ chức.
Đối với cán bộ, công chức, đó là lực đẩy thực hiện công việc tốt hơn và cơ hội làm thoả mãn nhu cầu của mình, đồng thời giúp cho cán bộ, công chức có thể tự hoàn thiện mình, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, ra sức phát huy hết sức lực, trí tuệ thực hiện có hiệu quả cao nhất các công việc được giao. Đối với tổ chức, tạo động lực làm việc sẽ giúp cho mọi hoạt động trong bộ máy cơ quan vận hành trơn tru hoàn thành công việc theo đúng kế hoạch đã vạch ra với hiệu suất cao nhất, tạo ra môi trường lý tưởng để thu hút được người có năng lực chuyên môn thực thụ gắn bó lâu dài với tổ chức, chung tay xây dựng cơ quan phát triển bền vững đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của tình hình mới. Vai trò của tạo động lực Như trong nội hàm của khái niệm vừa trình bày ở phần trên đã phản ánh: Tạo động lực cho cán bộ, công chức không những kích thích tâm lý làm việc cho cán bộ, công chức mà điều quan trọng nhất là sẽ giúp tăng hiệu quả trong mọi hoạt động (trong đó có hoạt động của Sở Thông tin và Truyền thông Đồng Tháp). Đồng thời, xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong công tác.
Luan 8van Vì vậy, tạo động lực làm việc đóng vai trò quan trọng, là chìa khoá để cải thiện kết quả làm việc, là một trong những yếu tố có tác động không nhỏ đến hiệu quả lao động cũng như sự hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc trước hết sẽ có tác động trực tiếp đến tinh thần, thái độ làm việc và kết quả thực hiện công việc của cán bộ, công chức, từ đó góp phần rất lớn đến hiệu quả chất lượng công việc cũng như sự thành công của cơ quan, tổ chức. Cán bộ, công chức có động lực làm việc sẽ ý thức được công việc đang làm, có tinh thần làm việc hăng say, nhiệt tình, yêu công việc, coi việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức cũng như là một bước trên con đường đạt được mục tiêu của mình. Chính vai trò quan trọng này đòi hỏi các nhà lãnh đạo, quản lý luôn phải vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản trị khoa học tác động có chủ đích, có kế hoạch nhằm làm cho đội ngũ cán bộ, công chức có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp nhiều hơn cho cơ quan, đơn vị mình.
Một số học thuyết tạo động lực 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow Theo nhà tâm lý học người Mỹ - Abraham Maslow: con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thỏa mãn và ông đã phân chia các nhu cầu của con người thành 5 nhóm và được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao theo hình bậc thang như sau: - Nhóm 1: Nhóm Nhu cầu sinh học bao gồm những nhu cầu cơ bản để con người có thể tồn tại như thức ăn, nước uống, quần áo mặc, nhà ở. Trong lao động, đó là mong muốn được nhận được mức tiền lương đủ để trang trải cho các sinh hoạt và đảm bảo cuộc sống của cán bộ, công chức và gia đình họ. Tự thể hiện Được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh học Hình 1.1: Tháp nhu cầu Maslow Luan 9van - Nhóm 2: Nhóm Nhu cầu an toàn là những mong muốn của con người được đảm bảo an toàn về thân thể.
Trong lao động, đó là công việc ổn định lâu dài, điều kiện làm việc an toàn, được chăm sóc sức khỏe, được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. - Nhóm 3: Nhóm Nhu cầu xã hội thể hiện thông qua giao lưu, gặp gỡ, tiếp xúc thiết lập các mối quan hệ với những người khác. Trong lao động, cán bộ, công chức mong muốn tham gia các hoạt động giao lưu, sinh hoạt tập thể như bữa ăn trưa tập thể, tham gia bóng đá, các chuyến du lịch, nghỉ mát. - Nhóm 4: Nhóm Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu có địa vị, được người khác tôn trọng hay thừa nhận đối với sự thành đạt, tài năng, năng lực của một cá nhân.