chương I, Luật cán bộ công chức ban hành được sửa đổi bổ sung năm 2008 đã nêu: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng , Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) định nghĩa: Chất lượng là toàn bộ những tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thỏa mãn nhu cầu đã nêu ra và tiềm ẩn; người tạo nên chất lượng của một sản phẩm, dịch vụ đó, xét trong phạm vi hẹp của một tổ chức thì tất cả lực lượng lao động của tổ chức đó. Theo Tạ Ngọc Hải, Viện khoa học tổ chức Nhà nước, dựa trên khái niệm: “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố tổ chức bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công đạt được của mỗi tổ chức” thì: Chất lượng cán bộ, công chức là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… của cán bộ, công chức. Đứng trên cách tiếp cận vĩ mô thì chất lượng cán bộ, công chức được đánh giá thông qua các tiêu thức: Sức khỏe: Thể lực và trí lực; Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn; Các năng lực, phẩm chất cá nhân (ý thức kỷ luật, tính hợp tác, ý thức trách nhiệm trong công việc…).
Khái niệm chất lượng cán bộ (hay cán bộ, công chức) là sức khỏe phẩm chất, giá trị của người cán bộ được đánh giá thông qua các tiêu chí tổng hợp về sức khỏe, phẩm chất đạo đức, khả năng thích ứng hoàn thành có hiệu quả công việc được giao. Chất lượng cán bộ thường được đánh giá tiêu chuẩn như sau: Sức khỏe, phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; trình độ chuyên môn nghiệp vụ; hiệu quả công việc đảm nhận. Mỗi cán bộ có những tiêu chuẩn cụ thể riêng làm thước đo để đánh giá chuẩn mực chất lượng của cán bộ. Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, việc phấn đấu nâng cao chất lượng bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ một hoạt động nào.
Mặc dù có tầm quan trọng như vậy, nhưng chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định đo lường và cách hiểu của người này cùng khác với cách hiểu của người khác. 6 Tại nhiều diễn đàn khác nhau, cuộc tranh luận xung quanh vấn đề chất lượng luôn trở thành “tiêu điểm” mỗi khi vấn đề này được đặt ra trong nội dung hội thảo. Nguyên nhân của tình trạng ấy chính là những góc độ khác nhau của người nghiên cứu mà cách hiểu còn chưa thống nhất về bản chất của vấn đề. Vì thế, chất lượng là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày, nhưng cần phải xem xét dưới nhiều góp độ khác nhau.
Bởi theo triết học, chất lượng là tính quy định bản chất của sự vật, từ đó có thể phân biệt sự vật này với sự vật khác, qua đó có thể xem xét trong mối quan hệ biện chứng số lượng, sự tác động biện chứng này tạo cho sự vật tồn tại, phát triển không ngừng. Còn đối với nghĩa của kinh tế, chất lượng lại tập hợp những tính chất của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn những yêu cầu định trước, trong điều kiện xác định về kinh tế, xã hội. Qua khái niệm của triết học và của kinh tế, có thể thấy rằng dù ở mọi lĩnh vực khác nhau về chất lượng, nhưng đều có điểm chung là: Chất lượng của đối tượng đánh giá là tổng hợp các yếu tố liên quan đến đối tượng đó, làm nên tác dụng, giá trị của đối tượng. Như vậy, chất lượng có thể được hiểu: Thứ nhất, đó là tổng hợp những phẩm chất, tính chất (thuộc tính tạo nên cái giá trị của một con người, một sự vật hiện tượng).
Thứ hai, những phẩm chất đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đặt ra. Nói cách khác, chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật) được quy định trước đó. Chất lượng của từng cán bộ, công chức trong một tổ chức không đồng nghĩa với chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của tổ chức đó. Chất lượng của mỗi người phải được liên kết và phối hợp để tạo thành sức mạnh chung của tổ chức, do vậy cần được gắn kết về mặt số lượng cũng như cơ cấu các thành viên trong tổ chức nhằm phát huy cao nhất tính hiệu quả hoàn thành các nhiệm vụ theo phạm vi, chức năng nhiệm vụ được phân cấp.
Vai trò nâng cao chất lượng cán bộ, công chức Công nghiệp hóa là con đường phát triển tất yếu của tất cả các nước trên thế giới. Bởi vì, mục đích quan trọng nhất của công nghiệp hóa là phát triển sản xuất xã hội, trước hết là phát triển lực lượng sản xuất, nhằm thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng của con người và thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Con người với tri thức nghề nghiệp, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm sản xuất là một yếu tố cực kỳ quan trọng của lực lượng sản xuất. Khoa học kỹ thuật cũng có vai trò to lớn, quyết định trong việc biến đổi yếu tố con người trong lực lượng sản xuất theo chiều hướng hiện đại.
Khoa học kỹ thuật đã đến với con người thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và hoạt động thực tiễn, đã trang bị cho con người những tri thức lý luận và kinh nghiệm cần thiết để họ có thể nhanh chóng vận hành tốt và thích nghi với các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, tiên tiến trong sản xuất, cũng như có đủ năng lực giải quyết những tình huống phức tạp, có vấn đề trong sản xuất và đời sống. Mặt khác, sự thường xuyên đổi mới theo hướng hiện đại dần của các trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất và đời sống đã buộc con người - với tư cách là yếu tố của lực lượng sản xuất - phải luôn nỗ lực học tập, thường xuyên trau dồi kiến thức, nghiệp vụ, chuyên môn để khỏi bị đào thải ra khỏi quá trình sản xuất xã hội, để có thể nhanh chóng thích ứng với cuộc sống hiện đại. Chính vì vậy mà trình độ và chất lượng của đội ngũ những người lao động không ngừng được nâng cao và được hiện đại hóa theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật. Vai trò nền tảng, động lực và then chốt của khoa học kỹ thuật đối với quá trình CNH, HĐH nói riêng, đối với sự phát triển xã hội Việt Nam nói chung, được biểu hiện trên những mặt cụ thể sau đây: Một là, khoa học kỹ thuật có vai trò quyết định trong việc trang bị và trang bị lại các máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tiên tiến cho nền sản xuất xã hội nói riêng, cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân nói chung, nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng cường sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới, v.
với mục tiêu không ngừng cải thiện và nâng cao mức sống của người dân, sự phồn vinh và sức mạnh của xã hội Việt Nam. 8 Hai là, khoa học kỹ thuật đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, khai thác và phát huy nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn lực trí tuệ - một nguồn lực to lớn, có tính chất quyết định đối với sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta. Có nhiều cách thức để chúng ta thực hiện việc trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại, tiên tiến cho các ngành kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, dù bằng cách thức nào đi chăng nữa, điều quan trọng và có tính chất quyết định nhất ở đây là cần phải có những con người có đủ tri thức và năng lực để có thể khai thác, sử dụng một cách hiệu quả các trang thiết bị hiện đại.
Điều này chỉ có khoa học kỹ thuật tiên tiến mới làm được. Ba là, khoa học kỹ thuật giữ vai trò động lực trong việc tạo ra môi trường thông tin và thị trường thông tin - huyết mạch của CNH, HĐH và của cả nền kinh tế. So với giai đoạn phát triển trước đây, thì ngày nay, thông tin có một vị trí cực kỳ quan trọng, mang tính quyết định đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cả những hoạt động tinh thần. Có trang thiết bị, máy móc hiện đại, có những con người đã được đào tạo tay nghề và có kỹ năng, kỹ xảo cao, nhưng nếu thiếu thông tin thì sẽ dẫn đến chỗ không biết đầu tư chúng vào đâu cho đúng để kịp thời sinh lợi nhanh, và vì vậy, rất dễ sa vào chỗ mất phương hướng phát triển.
Bởi vì, thông tin trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật có liên quan rất chặt chẽ đến việc nắm bắt các bí quyết, bí mật công nghệ nằm trong các phương pháp, thiết bị, các dữ liệu khoa học kỹ thuật mới nhất. Bốn là, khoa học kỹ thuật có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và xã hội. Nhiệm vụ quan trọng của công tác tổ chức, quản lý là liên kết các yếu tố trang thiết bị, máy móc kỹ thuật, con người và thông tin lại với nhau thành một tổ hợp vận hành hợp lý, đồng đều nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định, mà ở đây là mục tiêu CNH, HĐH. Mục tiêu chung của CNH, HĐH ở nước ta là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Năm là, khoa học kỹ thuật đóng góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển lâu bền của xã hội.