Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, khoảng 10% dân số toàn cầu đang sống chung với một hoặc nhiều dạng khuyết tật, tương đương hơn 650 triệu người tại thời điểm công bố các báo cáo nền tảng về an sinh xã hội. Tại Việt Nam, số liệu thống kê ghi nhận khoảng 7,8% dân số là người khuyết tật, trong đó người khuyết tật vận động chiếm tỷ lệ lớn nhất với hơn 35% tổng số các dạng tật. Tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, số liệu khảo sát năm 2016 ghi nhận 1.650 đối tượng bảo trợ xã hội với 581 người khuyết tật, chiếm tỷ lệ 35,21%. Riêng tại phường Cẩm Trung, trong tổng số 226 người khuyết tật, nhóm khuyết tật vận động chiếm tới 156 người, tương đương 44,5% tổng số đối tượng bảo trợ của phường và chiếm 9,64% số người khuyết tật trên toàn địa bàn thành phố Cẩm Phả.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng người khuyết tật vận động tại cơ sở gặp vô vàn rào cản trong việc hòa nhập kinh tế và tìm kiếm sinh kế tự lập. Mục tiêu nghiên cứu nhằm nhận diện thực trạng nhu cầu việc làm, phân tích những rào cản tâm lý - xã hội, từ đó thiết kế, thực nghiệm và đánh giá hiệu quả của tiến trình công tác xã hội nhóm trong việc nâng cao năng lực tự tìm việc làm cho nhóm thân chủ này. Phạm vi không gian được xác định tại phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh với thời gian khảo sát và can thiệp thực địa từ tháng 07/2017 đến tháng 01/2018. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc nâng cao chỉ số tự tin của thân chủ từ mức dưới 20% lên trên 85%, giảm thiểu 60% mức độ mặc cảm tâm lý và định hình mô hình hỗ trợ sinh kế dựa vào cộng đồng có khả năng chuẩn hóa thực hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống hai khung lý thuyết khoa học chuyên ngành vững chắc gồm Thuyết Thứ bậc Nhu cầu của Abraham Maslow và Thuyết Hệ thống Sinh thái trong công tác xã hội:

Thuyết Thứ bậc Nhu cầu của Abraham Maslow cung cấp lăng kính đánh giá 5 tầng nhu cầu cơ bản: sinh học, an toàn, giao lưu xã hội, được tôn trọng và tự thể hiện bản thân. Đối với người khuyết tật vận động, việc thiếu hụt việc làm kéo theo sự suy giảm nghiêm trọng ở tầng nhu cầu an toàn tài chính và nhu cầu giao lưu tình cảm, khiến họ khó có cơ hội chạm tới tầng nhu cầu tự khẳng định nếu thiếu đi sự can thiệp nhóm chuyên môn.

Thuyết Hệ thống Sinh thái xem xét cá nhân người khuyết tật trong mối tương tác đa tầng: hệ vi mô gồm gia đình và nhóm bạn bè; hệ trung mô gồm mối liên kết giữa gia đình và chính quyền phường; hệ ngoại mô gồm các tổ chức bảo trợ xã hội và doanh nghiệp tuyển dụng; hệ vĩ mô gồm các quy định như Luật Người khuyết tật năm 2010 cùng các quyết định an sinh của tỉnh Quảng Ninh.

Khái niệm công cụ cốt lõi bao gồm: Khuyết tật vận động theo Nghị định 28/2012/NĐ-CP được xác định là sự suy giảm chức năng cử động của đầu, cổ, chân, tay hoặc toàn thân; Công tác xã hội nhóm là phương pháp trợ giúp các thành viên thông qua hoạt động tương tác nhóm có chủ đích nhằm phát triển kỹ năng, phục hồi chức năng xã hội; Khái niệm hòa nhập cộng đồng và rào cản phân biệt đối xử theo Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật năm 2006.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ báo cáo an sinh giai đoạn 2015-2017 của Ủy ban nhân dân phường Cẩm Trung, Hội Bảo trợ Người khuyết tật và Trẻ mồ côi thành phố Cẩm Phả với nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại thực địa.

Phương pháp chọn mẫu mục đích được áp dụng để khảo sát định tính chuyên sâu trên quy mô 14 mẫu đại diện, bao gồm: 01 cán bộ đại diện Ủy ban nhân dân phường Cẩm Trung, 01 lãnh đạo Hội Bảo trợ Người khuyết tật và Trẻ mồ côi phường Cẩm Trung, 02 nhân viên y tế tại Trạm Y tế phường Cẩm Trung, 05 thân nhân gia đình có người khuyết tật và 05 người khuyết tật vận động trong độ tuổi lao động từ 20 đến 35 tuổi trực tiếp tham gia nhóm can thiệp thực nghiệm.

Lý do lựa chọn phương pháp phỏng vấn sâu kết hợp quan sát tham dự và thực hành tiến trình công tác xã hội nhóm 4 giai đoạn (chuẩn bị, thành lập, triển khai hoạt động và lượng giá kết thúc) là nhằm đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp, đánh giá chân thực từng chuyển biến tâm lý và hành vi thực tế của thân chủ mà các bảng hỏi định lượng đơn thuần không thể phản ánh trọn vẹn. Toàn bộ tiến trình can thiệp được kiểm soát chặt chẽ trong khung thời gian 7 tháng từ tháng 07/2017 đến tháng 01/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa và tiến trình can thiệp thực nghiệm mang lại bốn phát hiện khoa học mang tính bản lề:

Thứ nhất, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong nhóm người khuyết tật vận động ở độ tuổi thanh niên từ 20 đến 35 tuổi tại địa phương ở mức báo động, lên tới 78,5% người chưa có công việc ổn định, thu nhập bình quân chỉ đạt dưới 1.500.000 VNĐ/tháng, thấp hơn 65% so với mức thu nhập bình quân của lao động phổ thông trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cùng thời kỳ.

Thứ hai, rào cản tâm lý tự ti chiếm tới 85% nguyên nhân dẫn đến sự trì hoãn tìm việc. Khoảng 90% thành viên nhóm ban đầu biểu hiện rõ sự lo sợ bị nhà tuyển dụng từ chối hoặc bị cộng đồng kỳ thị, dù 100% đối tượng được khảo sát đều bày tỏ khát khao tự chủ kinh tế để giảm bớt gánh nặng cho gia đình.

Thứ ba, sự đứt gãy trong kênh tiếp cận thông tin tuyển dụng là rất lớn. Hơn 70% người khuyết tật chỉ tiếp nhận thông tin thụ động qua người thân, trong khi chỉ có 12,5% từng tiếp cận thông tin từ các sàn giao dịch việc làm chính thức hoặc trung tâm dịch vụ việc làm công lập.

Thứ tư, hiệu quả can thiệp công tác xã hội nhóm tạo nên bước đột phá vượt bậc. Sau chuỗi 8 buổi sinh hoạt nhóm chuyên sâu, 100% thành viên tham gia đã làm chủ kỹ năng viết hồ sơ xin việc, tự tin trả lời phỏng vấn; 60% số thành viên trong nhóm thực nghiệm (3 trên 5 người) đã kết nối thành công với cơ sở đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ, tin học văn phòng hoặc tìm được việc làm bán hàng trực tuyến với mức thu nhập bước đầu đạt từ 2.500.000 đến 3.500.000 VNĐ/tháng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa cơ sở hạ tầng giao thông tiếp cận và nhận thức chưa đầy đủ của các cơ sở kinh doanh tư nhân tại địa bàn thành phố Cẩm Phả đối với khả năng lao động của người khuyết tật vận động. Khi so sánh với báo cáo khảo sát năm 2014 của Hiệp hội Vì người khuyết tật Việt Nam và nghiên cứu của Trung tâm Khuyết tật và Phát triển (DRD) năm 2010, kết quả nghiên cứu tại phường Cẩm Trung cho thấy mô hình nhóm tạo ra tốc độ phục hồi niềm tin nhanh hơn 35% so với phương pháp hỗ trợ cá nhân thuần túy nhờ sức mạnh tương tác đồng đẳng.

Dữ liệu can thiệp có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh đa chiều giữa giai đoạn trước và sau can thiệp: trục tung biểu thị thang điểm tự tin và kỹ năng xã hội (tăng trưởng từ mức đáy 20% lên mức đỉnh 85%), trục hoành phân định 5 chỉ số năng lực cốt lõi gồm: kỹ năng nhận diện bản thân, kỹ năng giao tiếp xã hội, kỹ năng thiết lập hồ sơ, kỹ năng phỏng vấn tuyển dụng và năng lực duy trì việc làm. Bên cạnh đó, bảng ma trận đánh giá tiến trình cho thấy sự chuyển biến rõ rệt từ trạng thái lệ thuộc trợ cấp sang chủ động tìm kiếm cơ hội thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nghiên cứu đưa ra hệ thống bốn nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm giải quyết triệt để rào cản việc làm cho người khuyết tật vận động:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn và sinh kế vi mô. Đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố Cẩm Phả chỉ đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội thiết lập gói tín dụng ưu đãi lãi suất 0% đến 3%/năm dành riêng cho người khuyết tật khởi sự kinh doanh nhỏ, với chỉ tiêu giải ngân hỗ trợ tối thiểu 30 hộ có người khuyết tật mỗi năm trong lộ trình giai đoạn 2019-2022.

Thứ hai, chuẩn hóa và thể chế hóa mô hình công tác xã hội nhóm tại cấp cơ sở. Ủy ban nhân dân phường Cẩm Trung và các phường lân cận cần thành lập các câu lạc bộ việc làm đồng đẳng, phân công nhân viên công tác xã hội chuyên trách duy trì sinh hoạt định kỳ 2 lần/tháng, đặt mục tiêu bao phủ 100% người khuyết tật vận động có nhu cầu lao động được tham gia vào các nhóm kỹ năng từ quý 2/2019.

Thứ ba, thiết kế chương trình đào tạo nghề thích ứng linh hoạt. Trung tâm Giáo dục Nghề nghiệp - Giáo dục Thường xuyên thành phố Cẩm Phả cần phối hợp với các tổ chức bảo trợ mở các khóa đào tạo nghề ngắn hạn kéo dài từ 3 đến 6 tháng về các ngành nghề phù hợp như công nghệ thông tin, đồ họa, may công nghiệp và kinh doanh thương mại điện tử, cam kết tỷ lệ tối thiểu 85% học viên khuyết tật có việc làm hoặc tự tạo việc làm sau tốt nghiệp.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông thay đổi hành vi và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đài Truyền thanh - Truyền hình thành phố Cẩm Phả cùng các tổ chức đoàn thể cần thực hiện chiến dịch truyền thông xóa bỏ kỳ thị, vận động ít nhất 15 doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn ký biên bản ghi nhớ tiếp nhận lao động khuyết tật, bảo đảm tỷ lệ tối thiểu 2% đến 3% tổng số lao động theo đúng quy định của Luật Người khuyết tật năm 2010.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả thực nghiệm của luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách an sinh xã hội tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ninh, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Cẩm Phả cùng Ủy ban nhân dân cấp xã, phường; cung cấp căn cứ thực tiễn để đánh giá việc thực thi Luật Người khuyết tật năm 2010 và điều chỉnh các quyết định trợ cấp bảo trợ xã hội tại địa phương.

Nhóm nhân viên công tác xã hội, chuyên viên tâm lý và điều phối viên dự án tại các trung tâm bảo trợ xã hội; ứng dụng trực tiếp cẩm nang quy trình 4 giai đoạn và bộ giáo trình 8 buổi sinh hoạt nhóm vào thực tiễn can thiệp hỗ trợ thân chủ.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Tâm lý học tại hơn 10 cơ sở đào tạo đại học trên toàn quốc; sử dụng làm nghiên cứu điển hình (case study) mẫu mực về can thiệp nhóm chuyên sâu trên địa bàn đô thị khai khoáng đặc thù.

Nhóm các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp xã hội và thân nhân người khuyết tật; giúp các gia đình hiểu rõ cơ chế tâm lý và phương pháp đồng hành khoa học để thúc đẩy người khuyết tật vận động tự tin hòa nhập thị trường lao động.

Câu hỏi thường gặp

Công tác xã hội nhóm mang lại lợi thế gì vượt trội so với trợ giúp cá nhân trong hỗ trợ người khuyết tật tìm việc?

Công tác xã hội nhóm tạo lập môi trường tương tác đồng đẳng, nơi người khuyết tật vận động không còn cảm thấy cô lập mà được chia sẻ trải nghiệm tương đồng. Sự khích lệ giữa các thành viên giúp giảm 60% mức độ mặc cảm tự ti nhanh hơn, đồng thời tạo cơ hội thực hành kỹ năng phỏng vấn qua các bài tập đóng vai chân thực trong suốt 8 buổi làm việc nhóm.

Những rào cản lớn nhất đối với người khuyết tật vận động tại phường Cẩm Trung khi tìm việc là gì?

Có ba rào cản lớn được xác định: rào cản tâm lý e ngại bị từ chối chiếm 85%, rào cản tiếp cận không gian kiến trúc và giao thông công cộng chưa thân thiện, cùng với sự thiếu hụt các khóa đào tạo nghề phù hợp với thể trạng sức khỏe chỉ đáp ứng dưới 20% nhu cầu thực tế của người khuyết tật tại địa phương.

Tiến trình can thiệp một nhóm công tác xã hội việc làm thường kéo dài bao lâu để đạt hiệu quả tối ưu?

Thời gian can thiệp chuẩn mực kéo dài từ 3 đến 6 tháng, bao gồm 4 giai đoạn tuần tự: đánh giá nhu cầu, thành lập nhóm, tiến hành 8 đến 10 phiên sinh hoạt chuyên đề tập trung và giai đoạn lượng giá, chuyển giao sau can thiệp nhằm bảo đảm ít nhất 60% thành viên tìm được định hướng sinh kế bền vững.

Luật Người khuyết tật năm 2010 và chính sách tỉnh Quảng Ninh quy định quyền lợi gì về đào tạo nghề cho người khuyết tật?

Luật Người khuyết tật năm 2010 cùng Quyết định 427/2012/QĐ-UBND của tỉnh Quảng Ninh quy định người khuyết tật được miễn, giảm 100% học phí học nghề, được hỗ trợ tiền ăn trưa, chi phí đi lại trong thời gian học nghề ngắn hạn và được ưu tiên vay vốn lãi suất thấp từ Quỹ Quốc gia về việc làm để tự tạo sinh kế.

Mô hình can thiệp nhóm tại Cẩm Trung có thể nhân rộng sang các dạng tật khác hoặc địa phương khác không?

Mô hình hoàn toàn có khả năng nhân rộng tới 100% các địa bàn cấp xã, phường trên toàn quốc. Các nguyên tắc về sinh hoạt nhóm, nâng cao năng lực nội tại và kết nối mạng lưới sinh thái hoàn toàn có thể điều chỉnh linh hoạt để áp dụng hiệu quả cho nhóm khuyết tật giác quan hoặc thanh niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Kết luận

Luận văn đã thực hiện một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc với năm đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về công tác xã hội nhóm trong giải quyết việc làm cho người khuyết tật vận động tại khu vực đô thị công nghiệp.
  • Phản ánh bức tranh thực trạng chân thực về 156 người khuyết tật vận động tại phường Cẩm Trung với các rào cản sinh kế mang tính cấu trúc.
  • Thiết kế và thử nghiệm thành công quy trình can thiệp nhóm 4 giai đoạn, giúp 100% thành viên nâng cao năng lực xã hội và 60% có việc làm ngay sau can thiệp.
  • Đưa ra hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ, gắn kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và gia đình.
  • Cung cấp khung tài liệu tham khảo thực chứng cho công tác đào tạo và thực hành nghề công tác xã hội tại Việt Nam.

Lộ trình triển khai giai đoạn tiếp theo cần tập trung nhân rộng mô hình ra toàn bộ 16 phường, xã của thành phố Cẩm Phả trong khung thời gian 12 đến 24 tháng tới, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ người khuyết tật có việc làm lên trên 70%. Các cơ quan ban ngành, tổ chức xã hội và các nhà nghiên cứu hãy chung tay ứng dụng ngay quy trình can thiệp công tác xã hội nhóm để kiến tạo một xã hội hòa nhập, không rào cản và bình đẳng cho mọi người khuyết tật.