Tổng quan nghiên cứu

Ngành xây dựng hiện đóng góp khoảng 13% tổng quy mô kinh tế toàn cầu, giữ vai trò động lực thúc đẩy mạng lưới cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng tại các đô thị lớn đang tạo ra áp lực khổng lồ lên hệ thống xử lý môi trường. Chất thải xây dựng và phá dỡ hiện chiếm tới 35% tổng lượng chất thải rắn phát sinh trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, lượng chất thải rắn đô thị phát sinh trung bình khoảng 60.000 tấn/ngày, trong đó chất thải xây dựng chiếm tỷ trọng từ 10% đến 12%.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế trọng điểm với diện tích 2.090 km2, dân số hơn 8,9 triệu người cùng hơn 12.000 doanh nghiệp sản xuất và 16 khu công nghiệp tập trung – khối lượng chất thải xây dựng phát sinh mỗi ngày dao động từ 700 đến 1.200 tấn. Nguồn phế thải này xuất phát từ các hoạt động phá dỡ công trình cũ, thi công móng ngầm, khoan cọc nhồi, đào đắp đất bùn và cải tạo hạ tầng. Việc thiếu hụt cơ chế quản lý tích hợp dẫn đến tình trạng ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước ngầm do dung dịch bentonite và kim loại nặng, đồng thời làm gia tăng phát thải khí nhà kính trong chuỗi cung ứng vật liệu.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Xây dựng được thực hiện từ tháng 09/2023 đến tháng 01/2024 nhằm nhận diện, đo lường và xếp hạng các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc giảm thiểu chất thải xây dựng và phá dỡ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học để cắt giảm từ 15% đến 25% lượng phế thải phát sinh tại nguồn, tối ưu hóa chi phí vận hành dự án và kéo dài tuổi thọ bãi chôn lấp chất thải đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý chuỗi cung ứng xanh, mô hình phân tích vòng đời dự án và nguyên tắc phân cấp quản lý chất thải 3R (Tiết giảm - Tái sử dụng - Tái chế). Cơ sở pháp lý trọng tâm của đề tài bám sát các quy định tại Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu, cùng Thông tư 08/2017/TT-BXD của Bộ Xây dựng quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng.

Khung phân tích bao gồm 40 biến quan sát được chuẩn hóa thành 7 nhóm yếu tố cấu thành:

  • Nhóm quản lý hợp đồng và ràng buộc pháp lý.
  • Nhóm vận chuyển và giao nhận vật liệu xây dựng.
  • Nhóm giải pháp thiết kế và tích hợp thông tin công trình.
  • Nhóm kế hoạch tổ chức và điều hành ngoài công trường.
  • Nhóm cơ chế và chính sách khuyến khích kinh tế.
  • Nhóm quy trình mua sắm và kiểm soát vật tư.
  • Nhóm năng lượng xanh, vật liệu mới và tái chế chất thải rắn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình định lượng kết hợp khảo sát chuyên gia đa tầng. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua kỹ thuật chọn mẫu phi xác suất với đối tượng khảo sát là các kỹ sư, kiến trúc sư, chỉ huy trưởng, giám đốc dự án và cán bộ quản lý thuộc chủ đầu tư, nhà thầu chính, đơn vị tư vấn và cơ quan quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo nguyên tắc nghiên cứu định lượng, cỡ mẫu tối thiểu cần đạt ít nhất gấp 5 lần số lượng biến quan sát (tương ứng 200 mẫu cho 40 biến). Tổng cộng có 300 phiếu khảo sát được phát hành qua hai kênh: trực tiếp tại công trường (100 phiếu, thu về 65 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ 65%) và trực tuyến qua biểu mẫu điện tử (200 phiếu, thu về 156 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ 78%). Tổng số mẫu hợp lệ đưa vào phân tích là 221 mẫu, đáp ứng hoàn toàn điều kiện đại diện thống kê.

Dữ liệu được xử lý tuần tự qua phần mềm SPSS và Amos với các công cụ phân tích chuẩn mực:

  • Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (điều kiện chấp nhận: hệ số Alpha ≥ 0,60 và hệ số tương quan biến - tổng ≥ 0,30) nhằm loại bỏ biến rác.
  • Phân tích nhân tố khám phá (EFA) với phép quay Varimax (điều kiện: KMO > 0,50, kiểm định Bartlett có p < 0,05, tổng phương sai trích ≥ 50%, hệ số tải nhân tố > 0,50).
  • Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình hóa cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm tra độ phù hợp mô hình lý thuyết thông qua các chỉ số CMIN/df ≤ 3,0, GFI, TLI, CFI ≥ 0,80 và sai số RMSEA ≤ 0,08.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả xử lý 221 mẫu khảo sát qua mô hình phân tích cấu trúc tuyến tính đã lượng hóa rõ nét mức độ tác động của 7 nhóm nhân tố đến mục tiêu giảm thiểu chất thải xây dựng và phá dỡ:

  • Chính sách khuyến khích có tác động mạnh nhất: Nhóm chính sách khuyến khích và cơ chế thưởng phạt kinh tế đạt hệ số hồi quy chuẩn hóa cao nhất trong mô hình SEM. Việc áp dụng cơ chế thưởng tiền cho các đội thi công đạt định mức tiết kiệm vật tư mang lại hiệu quả giảm phát sinh phế thải cao hơn 30% so với việc chỉ áp dụng chế tài xử phạt hành chính.
  • Kế hoạch tổ chức ngoài công trường quyết định hao hụt thực tế: Nhóm kế hoạch quản lý hiện trường đóng góp tỷ trọng ảnh hưởng lớn thứ hai. Việc kiểm soát định mức hao hụt vật liệu, quy trình bảo quản kho bãi và chứng nhận kiểm định máy móc định kỳ giúp giảm thiểu từ 15% đến 20% lượng vữa, gạch, bê tông vỡ hỏng trong quá trình thi công.
  • Tối ưu hóa thiết kế và ứng dụng BIM: Các biến đo lường về tích hợp bản vẽ kiến trúc - kết cấu - cơ điện (M&E) thông qua mô hình thông tin công trình (BIM) giúp phát hiện xung đột không gian trước khi thi công, ngăn chặn 12% đến 18% khối lượng công việc phải đập phá sửa chữa lại.
  • Ràng buộc pháp lý trong hợp đồng mua sắm: Quy định cụ thể về ngưỡng hao hụt cho phép trong hợp đồng giữa chủ đầu tư, tổng thầu và nhà cung ứng, kết hợp cam kết thu hồi bao bì/kiện hàng đóng gói giúp giảm đáng kể lượng rác thải thứ cấp ngoài công trình.

Thảo luận kết quả

Mối tương quan giữa các nhóm nhân tố được thể hiện trực quan qua sơ đồ cấu trúc đường dẫn SEM và bảng xếp hạng giá trị trung bình thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu chỉ ra rằng việc giảm thiểu phế thải không thể chỉ dựa vào nỗ lực kỹ thuật đơn lẻ tại hiện trường mà phụ thuộc chặt chẽ vào chính sách phối hợp liên ngành.

Khi so sánh với các nghiên cứu thực nghiệm tại Hồng Kông, Anh và Ai Cập (nơi tỷ lệ phát sinh chất thải xây dựng chiếm từ 28% đến 50% tổng chất thải rắn), kết quả tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nét đặc thù rõ rệt: sự thiếu hụt các bãi tập kết trung chuyển hợp chuẩn và thị trường tái chế phế thải chưa hoàn thiện khiến các nhà thầu có xu hướng chọn phương án chôn lấp giá rẻ thay vì tái chế. Do đó, việc can thiệp bằng chính sách hỗ trợ thuế, trợ giá công nghệ nghiền sàng tái chế xà bần và quy chuẩn hóa tỷ lệ sử dụng cốt liệu tái chế trong bê tông lót, san lấp nền móng là giải pháp đòn bẩy then chốt.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu giảm thiểu chất thải xây dựng và phá dỡ tại các dự án đô thị, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể cần được triển khai đồng bộ:

  • Hoàn thiện chính sách và chế tài kinh tế: Sở Xây dựng và Sở Tài nguyên & Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cần ban hành biểu khung định mức phát thải chất thải xây dựng bắt buộc cho từng loại hình công trình; áp dụng chính sách giảm từ 5% đến 10% phí bảo vệ môi trường cho các dự án đạt chứng chỉ công trình xanh hoặc tái sử dụng trên 40% khối lượng xà bần tại chỗ; triển khai trong lộ trình 12 đến 24 tháng tới.
  • Chuẩn hóa hồ sơ thiết kế và chuyển đổi số: Các chủ đầu tư và đơn vị tư vấn thiết kế cần bắt buộc áp dụng công nghệ BIM từ giai đoạn thiết kế cơ sở đến bản vẽ thi công nhằm triệt tiêu hoàn toàn lỗi xung đột kỹ thuật; chuẩn hóa kích thước module cửa sổ, cửa đi và vách kính nhằm hạn chế tối đa việc cắt gọt vật tư tại hiện trường, hướng tới mục tiêu giảm 15% phế thải phát sinh ngay từ khâu ý đồ thiết kế.
  • Tối ưu hóa quản trị hiện trường và chuỗi cung ứng: Các doanh nghiệp tổng thầu thi công cần thiết lập quy trình kiểm soát vật tư 3 lớp (kiểm tra giao nhận tại cổng, bảo quản kho bãi đúng tiêu chuẩn và xuất kho theo tiến độ từng phân đoạn); đưa tiêu chí giảm thiểu phế thải vào chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) của ban chỉ huy công trường và thưởng định kỳ cho các tổ đội có tỷ lệ hao hụt vật liệu thấp hơn định mức dự toán từ 2% đến 5%.
  • Phát triển chuỗi tái chế vật liệu vòng tròn: Các nhà cung cấp vật liệu xây dựng và đơn vị phá dỡ cần ký kết biên bản hợp tác thu hồi toàn bộ pallet gỗ, vỏ bao bì, thùng chứa kim loại; đầu tư dây chuyền nghiền bê tông di động tại các công trình quy mô lớn trên 10.000 m2 sàn để tái tạo cốt liệu thô phục vụ tôn nền và làm đường giao thông nội bộ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và mô hình định lượng trong luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng và môi trường: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng thông tư, hướng dẫn kỹ thuật và quy hoạch hệ thống bãi xử lý, trạm trung chuyển chất thải rắn xây dựng phân vùng cho Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị vệ tinh.
  • Chủ đầu tư và các ban quản lý dự án: Tham khảo để hoàn thiện điều khoản mẫu trong hồ sơ mời thầu, tích hợp các yêu cầu bảo vệ môi trường và tiêu chí nghiệm thu xanh nhằm tối ưu hóa từ 8% đến 12% ngân sách quản lý chất thải.
  • Các doanh nghiệp tổng thầu, nhà thầu chuyên môn và tư vấn giám sát: Sử dụng bộ tiêu chí 40 biến quan sát để xây dựng quy trình kiểm soát hao hụt nội bộ, đào tạo tay nghề công nhân và nâng cao năng lực cạnh tranh trong các gói thầu yêu cầu tiêu chuẩn môi trường khắt khe.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý Xây dựng: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận kết hợp SPSS - AMOS, phân tích EFA - CFA - SEM trong nghiên cứu kinh tế và quản lý kỹ thuật xây dựng.

Câu hỏi thường gặp

Chất thải xây dựng và phá dỡ tại Thành phố Hồ Chí Minh phát sinh chủ yếu từ những nguồn nào? Chất thải xây dựng đô thị phát sinh từ 4 nguồn chính: hoạt động phá dỡ nhà cũ, giải phóng mặt bằng, đào đất móng công trình và thi công xây lắp mới. Khối lượng phát sinh trung bình từ 700 đến 1.200 tấn/ngày, trong đó bê tông vỡ, gạch đá xà bần và đất bùn chiếm trên 70% tổng lượng phế thải.

Tại sao mô hình nghiên cứu chỉ ra chính sách khuyến khích có tác động mạnh hơn hình phạt? Các biện pháp phạt hành chính thường chỉ mang tính xử lý thụ động sau khi vi phạm đã xảy ra. Ngược lại, chính sách khuyến khích kinh tế, như trích thưởng định mức tiết kiệm vật tư cho công nhân hoặc ưu đãi chi phí cho nhà thầu, tạo ra động lực tài chính trực tiếp giúp thay đổi hành vi quản lý ngay từ giai đoạn lập kế hoạch.

Việc ứng dụng mô hình thông tin công trình BIM giúp giảm phế thải xây dựng như thế nào? Công nghệ BIM tích hợp toàn diện dữ liệu kiến trúc, kết cấu và hệ thống cơ điện (M&E) trong không gian 3D trực quan. Việc phối hợp dữ liệu số giúp phát hiện và xử lý sớm các điểm giao cắt, xung đột thiết kế, ngăn chặn triệt để tình trạng đổ bê tông hay xây tường xong phải đập phá để lắp đặt đường ống kỹ thuật.

Cỡ mẫu 221 phiếu khảo sát có đảm bảo độ tin cậy thống kê cho mô hình cấu trúc SEM không? Cỡ mẫu 221 hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu định lượng. Với 40 biến quan sát, quy tắc thống kê yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu đạt từ 200 mẫu (tỷ lệ 5 mẫu cho mỗi biến quan sát). Các chỉ số kiểm định độ hội tụ và độ thích hợp mô hình trên Amos đều đạt ngưỡng chuẩn mực khoa học.

Các doanh nghiệp xây dựng có thể tái chế chất thải rắn ngay tại công trường bằng cách nào? Doanh nghiệp có thể phân loại phế thải ngay tại nguồn phát sinh. Bê tông vỡ và gạch vụn được đưa vào máy nghiền sàng di động để tạo thành cấp phối đá dăm tái chế phục vụ đổ bê tông lót móng, đắp nền đường tạm hoặc sản xuất gạch không nung tự chèn, giúp tiết kiệm 10% đến 15% chi phí mua vật liệu mới.

Kết luận

  • Xác lập bức tranh toàn diện về thực trạng phát sinh từ 700 đến 1.200 tấn chất thải xây dựng mỗi ngày tại Thành phố Hồ Chí Minh, khẳng định tính cấp thiết của việc kiểm soát phế thải tại nguồn.
  • Kiểm định thành công độ tin cậy và giá trị hội tụ của 40 biến quan sát thuộc 7 nhóm nhân tố thông qua chuỗi phân tích định lượng chuyên sâu Cronbach's Alpha, EFA, CFA và SEM trên mẫu khảo sát 221 chuyên gia.
  • Khẳng định vai trò dẫn dắt của nhóm chính sách khuyến khích và kế hoạch quản trị hiện trường đối với hiệu quả giảm thiểu chất thải xây dựng trong các dự án đô thị.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ 4 cấp độ gắn liền với trách nhiệm cụ thể của cơ quan quản lý, chủ đầu tư, nhà thầu thi công và nhà cung ứng trong giai đoạn 2024 - 2030.
  • Để hướng tới ngành xây dựng xanh và kinh tế tuần hoàn, các doanh nghiệp và đơn vị quản lý dự án cần chủ động chuyển đổi số, áp dụng nguyên tắc quản lý 3R và chuẩn hóa quy trình kiểm soát phế thải ngay hôm nay.