PHẦN MỞ ĐẦU Với nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng sự hội nhập kinh tế thế giới đang diễn ra sâu rộng. Doanh nghiệp có nhiều cơ hội hoạt động sản xuất kinh doanh để mang về lợi nhuận. Số lượng doanh nghiệp kinh doanh trong bất cứ ngành hay thị trường nào ngày càng tăng, đặt ra thách thức cho chính doanh nghiệp trong việc tồn tại và phát triển. Sự cạnh tranh tạo ra cơ hội và thách thức khiến doanh nghiệp thay đổi.
Trong một thị trường hàng hóa không có nhiều sự khác biệt, chất lượng dịch vụ khách hàng có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh. Thị trường tiêu thụ ô tô ở Việt Nam có nhiều biến động ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế vĩ mô và nhu cầu của người dùng. Tuy nhiên, thị trường ô tô đã qua sử dụng ở Việt Nam còn mới và chưa nhận được nhiều sự quan tâm từ các cơ quan có thẩm quyền. Chính vì vậy các công ty hoạt động trong ngành này còn gặp nhiều thách thức và khó khăn.
Nhưng đó cũng là một cơ hội phát triển khi chưa có nhiều doanh nghiệp tham gia thị trường. Đặc thù sản phẩm hàng hóa là ô tô đã qua sử dụng, hơn nữa lại có giá trị lớn đối với thu nhập bình quân của người dân Việt Nam nên doanh nghiệp cần có cách kinh doanh phù hợp để phát triển. Công ty cổ phần Caraz là một doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động kinh doanh mua bán xe ô tô đã qua sử dụng trong thị trường nội địa Việt Nam. Nhưng cũng giống như các công ty trong ngành và các doanh nghiệp khác, chất lượng dịch vụ KH là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự thành công của Công ty cổ phần Caraz.
Chính vì vậy, thực trạng CLDV KH của công ty Cổ phần Caraz là một yếu tố được quan tâm hàng đầu đối với lãnh đạo công ty. Bài viết này dựa trên mô hình 5 nhân tố của Parasuman kết hợp với phân tích định lượng để đánh giá thực tiễn về Chất lượng dịch vụ CSKH tại Công ty cổ phần ô tô Caraz, sau đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng tại công ty. Tính cấp thiết của đề tài Nhờ sự phát triển của nền kinh tế thị trường với sự hội nhập sâu rộng, hoạt động tiêu thụ và mua bán ô tô đã phát triển không ngừng trong những năm gần đây. Theo thống kê của Tổng cục Đăng kiểm Việt Nam, tính đến tháng 9 năm 2022, số lượng xe ô tô đang lưu hành tại Việt Nam đạt kỷ lục với 4.
Số lượng xe gia tăng không ngừng. Số lượng xe đăng ký mới cũng như lượng xe đã qua sử dụng được mua bán, giao dịch và đăng ký sang tên đổi chủ liên tục được thực hiện. Sử dụng dịch vụ tư vấn, mua bán, trao đổi xe đã qua sử dụng trực tiếp tại showroom khiến khách hàng tiết kiệm thời gian, chi phí cho việc mua xe, lại có thể yên tâm đảm bảo về chất lượng cũng như giảm bớt các rủi ro của hành lang pháp lý. Mặc dù dịch vụ mua bán xe ô tô đã qua sử dụng tại Việt Nam mới thực sự phát triển trong một thập kỷ gần đây, nhưng không thể phủ nhận sự tăng trưởng về số lượng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tư vấn, mua bán, trao đổi xe ô tô và cả khách hàng.
Điều này dẫn đến sự cạnh tranh liên tục giữa các công ty nhằm gia tăng thị phần, thu hút khách hàng, nâng cao lợi nhuận. Với đặc thù là một chuyên ngành dịch vụ, mua – bán xe ô tô đã qua sử dụng là một dịch vụ đặc biệt, trong đó, chất lượng dịch vụ khách hàng đóng vai trò quan trọng nhằm nâng cao uy tín của đơn vị cung cấp dịch vụ choikhách hàng và xã hội. Việc khách hàng tin tưởng, hài lòng về chất lượng dịch vụ giúp doanh nghiệp có chỗ đứng trên thị trường, tăng trưởng doanh thu cũng như lợi nhuận. Tuy nhiên, trên thực tế, hiếm có bài báo, nghiên cứu khoa học nghiên cứu về lĩnh vực chất lượng dịch vụ khách hàng của các doanh nghiệp cung cấp loại hình dịch vụ này.
Chính vì lý do trên, tác giả chọn đề tài “Nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng tại công ty cổ phần ô tô Caraz” nhằm tìm hiểu thực trạng công tác dịch vụ KH tại Công ty, tình hình kinh doanh thực tế từ đó nhận diện dấu hiệu, tìm ra nguyên nhân và đề ra giải pháp hữu ích cho việc nâng cao CLDV KH tại Công ty cổ phần Caraz. Tổng quan nghiên cứu Chất lượng dịch vụ khách hàng là một vấn đề quan trọng được quan tâm hàng đầu đối với các doanh nghiệp. Chính vì vậy phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ khách hàng là chủ đề phổ biến trong nghiên cứu. Hiện tại, có khá nhiều nghiên cứu về chủ đề này trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như bảo hiểm, ngân hàng, bán lẻ,… Tổng quan các nghiên cứu trong nước Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Thị Thu (2012) với đề tài “Nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm của công ty Bảo Việt Hà Giang” được sử dụng 194 mẫu quan sát được chọn theo phương pháp so sánh nhóm nghiệp vụ, phương pháp phân tích tài liệu như so sánh, thống kê mô tả được thực hiện bằng ứng dụng excel.
Kết quả đưa ra xác định 6 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của công ty Bảo Việt Hà Giang, cụ thể là mức độ thuận lợi để khách hàng tiếp cận dịch vụ bảo hiểm, mức độ phản ảnh nhu cầu khách hàng, sức thu hút của dịch vụ, năng lực giải quyết vấn đề của công ty, năng lực phục vụ của doanh nghiệp và mức độ tin cậy với dịch vụ. Trần Thị Thu Sương (2019) - VNPT tỉnh Kiên Giang; PGS. Phan Thanh Hải – Trường Đại học Duy Tân Đà Nẵng nghiên cứu với đề tài “Nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ FiberVNN: Nghiên cứu tại TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang”.
Nghiên cứu này triển khai nhằm đo lường sự ảnh hưởng của các yếu tố tới sự hài lòng của khách hàng đối với CLDV FiberVNN được cung cấp bởi Viễn thông tỉnh Kiên Giang (VNPT Kiên Giang). Mẫu khảo sát gồm 268 KH sử dụng dịch vụ này tại đơn vị trong khoảng thời gian từ quý I đến cuối quý II/ 2019. Kết quả chỉ ra có 5 yếu tố có ảnh hưởng thuận chiều đến sự hài lòng của khách hàng gồm: Nhân viên, hạ tầng kỹ thuật, thông tin quảng cáo, năng lực phục vụ, giá phí. Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha cho thấy, 7 thành phần thang đo với 35 quan sát về đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ thẻ và yếu tố phụ thuộc đều có độ tin cậy lớn hơn 0,6 nên đều tin cậy để sử dụng.
Điều đó cho thấy, thang đo được xây dựng có ý nghĩa trong thống kê và đạt hệ số tin cậy cần thiết nên được tiếp tục đưa vào phân tích nhân tố khám phá EFA. Kết quả 4 đánh giá lại thang đo cho thấy, các thang đo đều thỏa mãn yêu cầu về đánh giá độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha. Như vậy, mô hình còn lại 31 biến độc lập, 4 biến phụ thuộc đưa vào phân tích nhân tố khám phá EFA. Nguyễn Trọng Thắng (Học viên Trường Đại học Phan Thiết) và TS.
Vòng Thình Nam (Giảng viên Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh) (2021). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của KH về chất lượng dịch vụ internet cáp quang FiberVNN tại VNPT thành phố Phan Rang - Tháp Chàm. Kết quả thu được như hình dưới: Hình 1. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Thắng và TS.
Vòng Thình Nam (2021) Nguồn: Nguyễn Trọng Thắng và TS. Vòng Thình Nam Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Leisn và Vance (2001) đã đánh giá CLDV KH trong lĩnh vực viễn thông ở Mỹ và Đức. Giá trị Cronbach’s alpha cho nghiên cứu trong khoảng từ 0,77 đối với nhân tố hữu hình đến 0.89 đối với nhân tố sự tin cậy. Trong nghiên cứu xuyên quốc gia này, nhân tố sự tin cậy là khía cạnh quan trọng nhất của CLDV ở Hoa Kỳ, trong khi ba nhân tố sự tin cậy, khả năng đáp ứng và nhân tố cảm thông có ảnh hưởng ngang nhau đến chất lượng dịch vụ viễn thông ở Đức.
Ngoài ra, nghiên cứu đã chỉ ra một sự khác biệt trong các câu trả lời bảng hỏi của Đức về giới tính. Nam giới ở Đức coi nhân tố sự tin cậy, Khả năng đáp ứng và Sự đồng cảm là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến CLDV, trong khi phụ nữ chỉ đánh giá nhân tố sự tin cậy là quan trọng nhất trong ảnh hưởng tới CLDV viễn thông. Trong một nghiên cứu khác, Wang và Lo (2002) đo lường chất lượng dịch vụ 5 và sự hài lòng của khách hàng trong ngành viễn thông di động tại Trung Quốc. Nghiên cứu sử dụng mô hình 5 nhân tố SERVQUAL, nhân tố chất lượng mạng viễn thông được coi là nhân tố quan trọng ảnh hướng nhất tới CLDV của ngành.
Nghiên cứu chỉ ra rằng hai nhân tố Sự cảm thông và Chất lượng mạng viễn thông là nhân tố quan trọng nhất của chất lượng dịch vụ, sau đó là nhân tố hữu hình, sự bảo đảm và sự tin cậy. Hơn nữa, nghiên cứu cho kết luận một mối quan hệ đáng kể giữa sự tin cậy, sự bảo đảm, tính hữu hình và chất lượng mạng với sự hài lòng của khách hàng, trong khi không có mối tương quan đáng kể nào được tìm thấy giữa sự cảm thông với sự hài lòng của khách hàng. Bài nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng khách hàng viễn thông di động của Trung Quốc ít chú ý đến nhân tố khả năng đáp ứng, trái ngược với nghiên cứu của Leisn và Vance (2001). Trong bài báo về đo lường CLDV ở Nam Phi trong lĩnh vực viễn thông, Vander Wal và các cộng sự (2004) có chỉ số Cronbach’s Alpha cho thang đo của mình là 0.
Nghiên cứu cho thấy nhân tố khả năng đáp ứng có tầm quan trọng nhất trong việc đưa ra dự đoán kỳ vọng và nhận thức về chất lượng, nhân tố tính hữu hình có đóng vai trò ít quan trọng nhất đến nhận thức về chất lượng dịch vụ. Xét về kỳ vọng và nhận thức, nghiên cứu báo cáo rằng nhân tố bảo đảm được xếp hạng là quan trọng nhất đối với đo lường CLDV.