Đặt vấn đề Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa có khí hậu nóng am quanh nam nén tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển các loại cây rau, nhất là các loại rau ăn quả và ăn lá. Đồng thời với điều kiện khí hậu như vậy cũng là sự thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển cho nhiều loại vi sinh vật trong đó có các loại vi sinh vat gây bệnh hại cho cây trồng. Trong các loại rau màu ở nước ta, cà chua được xem là loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, cung cấp nhiều hợp chất quan trọng, đặc biệt là một số chất chống oxy hóa như lycopene (Elbadrawy và Sello, 2016). Việc canh tác cây cà chua gặp nhiều khó khăn đòi hỏi nhiều khâu chăm sóc, kinh nghiệm canh tác, phòng trừ dịch hại, đặc biệt là các bệnh do vi nắm gây ra làm giảm năng suất thu hoạch từ 30-70% trên rau màu.
Fusarium là một trong những tác nhân gây bệnh phô biến trên cây cà chua, làm lá biến vàng héo khô dan, cây sinh trưởng yêu và cuối cùng toàn cây bị héo chết. Hơn thế nữa, các bệnh do Fusarium gây ra có thể lan rộng nhanh chóng thành dịch lớn trên đồng ruộng nhờ gió, mưa và các hoạt động của côn trùng (Đường Hồng Dật, 1969; Vũ Triệu Mẫn và Lê Lương Té, 1998). Dé phòng trừ nam gây bệnh người nông dân thường sử dung nhiều loại thuốc hóa học, đây là một biện pháp có hiệu quả cao, diệt trừ dịch hại nhanh chóng, triệt để. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc hóa học liên tục để phòng bệnh sẽ làm mầm bệnh dễ hình thành tính kháng, dễ phát sinh loài mới và gây ô nhiễm môi trường do dư lượng thuốc hóa học còn tồn dư lại trong quá trình sử dụng.
Vì vậy để khắc phục những hạn chế này, xu hướng hiện nay là sử dụng các tác nhân sinh học hay những sản pham trao đối chất của các tác nhân này đề phòng trừ bệnh hại cây trồng. Nhiều nhóm vi sinh vật có đặc tính đối kháng với tác nhân gây bệnh đã được sử dụng như nam đối khang Trichoderma viride, Bacillus subtilis và Streptomyces. Trong đó Pseudomonas spp. là nhóm vi khuẩn hiện diện nhiều ở vùng rễ cây trồng có khả năng tiết ra nhiều loại kháng sinh ức chê nhiêu loại nam gây bệnh có nguôn gôc trong dat.
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Đánh giá khả năng đối kháng của sáu chủng vi khuẩn Pseudomonas spp. đối với nam Fusarium solani gây bệnh héo vàng cây ca chua” đã được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài này được thực hiện nhằm chọn lọc dòng vi khuân Pseudomonas spp. có khả năng đối kháng cao với nam Fusarium solani gây bệnh héo vàng cây cà chua.
Nội dung thực hiện Nội dung 1: Đánh giá khả năng đối kháng với nam Fusarium solani của sau chủng Pseudomonas spp. trong điều kiện phòng thí nghiệm Nội dung 2: Đánh giá khả năng phòng trừ bệnh do nam Fusarium solani của 6 chủng vi khuan Pseudomonas spp. trên cây cà chua trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lưới. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Tong quan vé nam Fusarium 2. Giới thiệu về nam Fusarium Nam Fusarium thuộc ngành Ascomycota, lớp Sordariormycetes, bộ Hypocreales, họ Nectriaceae. Soi nắm của Fusarium không có sắc tố, nên người ta có thé phân loại chúng trong số hyalohyphomycetes. Có ít nhất 70 loài Fusarium spp.
đã được xác định và mô tả, nhưng có thể có nhiều loài hơn nữa vẫn chưa được xác định. Fusarium sống hoại sinh hoặc ký sinh trên nhiều loại cây trồng, cây ăn trái và rau. Hệ sợi nam phân nhánh, có vách ngăn, sợi nam thường không màu và chuyển mau nâu khi già. Hệ sợi nam sản sinh độc tố tiết vào hệ mạch gây héo cây chủ.
Cơ thé dinh dưỡng dang sợi da bào, phân nhánh phức tạp, vách ngăn có lỗ thủng đơn giản ở giữa, trong tế bào có một nhân hoặc nhiều nhân. Vách tế bào được cấu tạo từ chitin, glucan. Sắc tố khuẩn lạc thay đổi từ nhạt, hong, đỏ tia đến tím xanh tùy thuộc vào loài và điều kiện sinh trưởng. Ở giai đoạn hữu tinh, nam F solani hầu như không gây bệnh cho cây dù từ giai đoạn nuôi cấy, còn ở giai đoạn vô tinh thì F solani thường sẽ gây hại cho cây.
Giai đoạn vô tinh của F. solani bao gồm cả dạng giao phối đồng loại (homothallism) và giao phôi khác loại (heterothallic). Fusarium sinh sản vô tính trung bình giữa 3 kiểu bao tử vô tinh là bào tử đính lớn (Macroconidia), bao tử đính nhỏ (Microconidia) và bào tử vách dày (hậu bào tử - chlamydospores) (Nguyễn Văn Bá, 2005). Bào tử đính lớn của F.
solani có hình trụ hoặc hình liềm, thường có 3-5 vách ngăn (Barreto và ctv, 2005). Bào tử đính nhỏ có hình trụ hoặc hình nêm, có thể có một vách ngăn. Còn bào tử hậu của nắm F. solani hình thành ở nhiệt độ 30°C (Li va ctv, 1998) và được kích thích hình thành bởi các chiết xuất từ củ hành tây ở nhiệt độ 35°C và pH từ 6 — 7 (Sood, 1996).
Cơ chế lây nhiễm Nam Fusarium solani tan công và xâm nhiễm vào cây trồng khi rễ và thân cây bị ton thương, các mô bị suy yếu. solani là tác nhân gây ra các bệnh nghiêm trọng như thối rễ, thối thân, thối cũ,. trên nhiều loại cây trồng khác nhau như toi, cam, quýt, khoai tây, cà chua. Tuyến trùng là nhân tố giúp nam F.
solani xâm nhập vào cây một cach dé dàng. Khi tuyến trùng ký sinh vào rễ chúng sẽ tạo vết thương và từ đó nắm # solani tan công vào chóp rễ của cây trồng và làm thối rễ. Do đó, những vườn cây có mật độ tuyến trùng càng cao thi khả năng cây trồng mắc bệnh do nam F solani gây ra càng nghiêm trọng. Khi cây trồng bị ngập úng, rễ cây phải hô hấp trong điều kiện hiếu khí, thường sản sinh ra nhiều polyphenol, chất này làm cho các tế bào của rễ non bị chết đi.
Những nơi có tế bào rễ bị chết sẽ là nơi xâm nhập của #2 solani, sau đó sẽ lan dần vào các mạch xylem. Sau khi phát triển trong mạch xylem sẽ lan lên hệ thống mạch dẫn trong thân, gây tắc mạch xylem làm giảm lượng nước di chuyên trên cây, khiến cho cây bị héo rồi chết. Quá trình này gây phản ứng của cây, tạo ra các hợp chất phenol và tạo ra thé san có màu nâu (Nene, 1991). Bên cạnh đó đất thiếu chất dinh dưỡng nên chua hơn cũng tạo điều kiện thuận lợi cho nam # solani phát triển mạnh hơn.
Nam Fusarium solani có khả năng tồn tại lâu trong đất. Hầu hết đất canh tác đều có chứa khoảng 104 — 10° bào tử /g đất (Cook và Baker, 1989). Bên cạnh đó khả năng hình thành bào tử hậu cũng là một nguyên nhân giúp cho các chủng nam này có thé tồn tại lâu dai trong đất. Nam F solani gây hại ở giai đoạn khi cây con có 1 lá thật, cây con bị nhiễm bệnh sẽ bị ức chế sinh trưởng, chóp rễ bị hóa nâu dẫn đến bị thối, khô (Kokalis và ctv, 1997).
Tác hai của Fusarium trên rau màu Fusarium là loại nam phân bố rộng ở nhiều vùng trên thé giới, có khả năng gây bệnh trên nhiều loại cây trồng. Fusarium đã gây thiệt hại rất lớn đến nền nông nghiệp ở Việt Nam cũng như là trên toàn thé giới. Hang năm, tại Pakistan Fusarium đã gây bệnh trên cây đậu xanh làm giảm năng suất 10-50% (Khan và ctv, 2002). Theo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2003, tại Brazil năng suất cây cà chua cũng giảm 45-80% do nam Fusarium.
Fusarium gây nhiều bệnh khác nhau trên cây trồng như héo do tắc bó mạch, thối rễ, thân, củ. Vi dụ loài #2 decemcellulare thường hiện diện ở vùng nhiệt đới va á nhiệt đới. Chúng được phân lập từ những cây bị bệnh loét, khô cành. Từ các cây ca cao bị bướu ở Nam Mỹ.
moniliforme thường xuất hiện ở vùng khí hậu ấm. Chúng thường được phân lập từ những cây có triệu chứng bệnh thối thân, thối bắp, thối rễ cây Sorghum, thối ngọn ở cây mía, gây hư hỏng hạt lúa. Loài này có khả năng nhiễm vào hạt giống của một vài 4 cây kí chủ như ngô, lúa. Chúng có khả năng tạo ra độc tố moniliformin (Vesonder và Hesseltine, 1981).
solani là loài có khả năng sống trong đất, phân bồ trên phạm vi toàn thé giới, xuất hiện ở các vùng mưa nhiều va đất thoát nước kém. Là loài phổ biến nhất ở các vùng nhiệt đới va á nhiệt đới. Chúng gây thối rễ, cô rễ của nhiều loại cây trồng như đậu, cà chua. Gây thối củ, gây bệnh loét, chết khô của nhiều loại cây trồng (Nelson, 1981).
oxysporum phố biến trong đất canh tác ở vùng ôn đới và nhiệt đới. Loài này gồm nhiều dòng khác nhau và gây bệnh nghiêm trọng: gây héo mạch dẫn (VanderMolen, 1987), gây thối rạp cây con, gây thối rễ và cô rễ (Jarvis và Shoemmaker, 1978). Loài này có hơn 100 dòng khác nhau và bệnh héo là một van đề quan trọng. semitectum rat phô biển trong đất nông nghiệp, ở các vùng nhiệt đới và ôn đới.
Chúng được phân lập từ các bộ phận dưới đất thân, rễ, cũ và các bộ phận trên mặt đất. Các triệu chứng bệnh thường thay do Fusarium gây ra trên cây cà chua con là lá cây không phát triển được và trở nên khô héo. Ở những cây trưởng thành, lá sẽ bị héo rũ cụp xuống, thường bắt đầu từ các lá chét phía gốc ở một bên cây sau đó lan ra toàn cây làm cho lá trở nên héo rủ và chuyển sang màu vàng. Vết bệnh ở trên thân phía sát mặt đất hoặc cô rễ thường có mau nâu, vết bệnh lớn đần làm khô cả đoạn thân sát mặt đất, bộ rễ kém phát triển, rễ thối dan và chết đi (Đường Hồng Dat, 1969; Vũ Triệu Man và Lê Lương Té, 1998; Phạm Thị Lich, 2013).
Các biện pháp phòng trừ nam Fusarium gây hại trên cây trồng Phòng bệnh và trừ bệnh là hai mặt không thể tách rời nhau trong việc bảo vệ cây trồng và nông sản nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế cao. Các biện pháp phòng trừ bệnh hại trên cây trồng có thé chia thành các nhóm sau đây dựa trên nguyên lý tác động và phương pháp sử dụng các biện pháp đó: 2. Biện pháp sử dụng giống chống bệnh và giống sạch bệnh Tuyển chọn các giống một loại bệnh hoặc một nhóm bệnh có tác dụng làm giảm ton thất và chi phí cho các biện pháp phòng trừ khác, là một biện pháp có hiệu quả kinh tế cao. Mặt khác, sử dụng giống không mang bệnh dé gieo trồng có tác dụng phòng trừ bệnh trên quy mô đồng ruộng rất lớn.