Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN DỊCH VỤ THANH TOÁN TRONG NƯỚC QUA NGÂN HÀNG 1. DỊCH VỤ THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG 1. Khái niệm Dịch vụ ngân hàng Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh khái niệm dịch vụ ngân hàng. Ở nước ta đến nay vẫn chưa có văn bản pháp lí nào đưa ra khái niệm rõ ràng về vấn đề này.
Có quan điểm cho rằng bất cứ hoạt động sinh lời nào của NHTM ngoài hoạt động tín dụng đều được gọi là hoạt động dịch vụ. Tuy nhiên, theo một quan điểm khác phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, với cách thức phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục thống kê Việt Nam, cách phân loại các ngành dịch vụ tài chính trong Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO thì tất cả các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, thanh toán. mà NHTM cung ứng cho nền kinh tế đều được xem là hoạt động dịch vụ. Nhìn nhận một cách tổng thể thì các Ngân hàng thương mại hoạt động.
kinh doanh trên 3 mảng nghiệp vụ lớn: nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ tín dụng đầu tư, nghiệp vụ kinh doanh sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Mỗi nghiệp vụ đều có một vị trí và tác dụng khác nhau nhưng điều hướng tới mục tiêu chung và tổng quát của bất kỳ một ngân hàng nào là đáp ứng được nhu cầu của khách hàng với hiệu quả cao nhất thông qua các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng mang lại cho khách hàng. Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, Thanh toán qua ngân hàng là các giao dịch thanh toán giữa người trả và người hưởng qua ngân hàng, trong đó ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán. Trong trường hợp này, các ngân hàng là một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2002 của Thông đốc NHNN quy định các (ổ chức cung ứng dich vụ thanh toán bao gồm: ~ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (dưới đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước); ~ Các Ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác; ~ Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương; ~ Các tổ chức tin dụng không phải là Ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cho phép làm dịch vụ thanh toán. ~ Các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép làm dịch vụ thanh toán (Kho bạc Nhà nước. Phân loại dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Phân loại theo phạm vi: Các dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp bao gồm Dịch vụ thanh toán trong.
nước và Dịch vụ thanh toán quốc tế. ~ Dịch vụ thanh toán quốc tế: Dịch vụ thanh toán quốc tế là dịch vụ mà giao dịch thanh toán thuộc một trong các trường hợp sau: Giao dịch thanh toán được xác lập hoặc thực hiện hoặc kết thúc ở nước ngoài; hoặc giao dịch thanh toán có liên quan đến tài khoản mở tại nước ngoài; Giao dịch thanh toán có doanh nghiệp chế xuất tham gia. - Dịch vụ thanh toán trong nước: dịch vụ mà giao dịch thanh toán được xác lập, thực hiện và kết thúc trên lãnh thổ Việt nam trừ trường hợp. có liên quan đến tài khoản mở tại nước ngoài hoặc có doanh nghiệp chế xuất tham gia.
Phân loại theo hình thức: “Trên thực tế, thanh toán giữa hai chủ thể có thể thực hiện bằng tiền mặt hoặc không bằng tiền mặt.Trong trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt, quá trình thanh toán nhất thiết phải có sự tham gia của trung gian thanh toán, ở đây là ngân hàng. Do sự đa dạng trong các thể thức thanh toán qua ngân hàng và để đáp ứng những nhu cầu đa dạng về cách thức thanh toán của khách hàng mà việc thanh toán qua ngân hàng có thê bao gồm cả 3 dạng ~ Thanh toán dùng tiền mặt là trong đõ một khách hàng dùng tiền mặt để chuyển tiền cho người hưởng và người hưởng nhận bằng tiền mặt từ ngân hàng. ~ Thanh toán không dùng tiền mặt là tắt cả các hình thức trả tiền qua tài khoản ngân hàng, thực hiện bằng các cách chuyển khoản hoặc bù trừ công nợ ~ Thanh toán hỗn hợp là một dạng thanh toán kết hợp của 2 hình thức trên. Trong đó khách hàng có thể chuyển tiền từ tài khoản của mình cho người thụ hưởng nhận bằng tiền mặt và ngược lại.
Chẳng hạn, người trả nộp tiền vào NH để yêu cầu ghi Có cho tài khoản của người hưởng; hoặc người trả lập ủy nhiệm chỉ yêu cầu ghi Nợ tài khoản để chuyển tiền cho người nhận và người nhận nhận bằng tiền mặt từ ngân hàng. Đặc điểm của thanh toán qua ngân hang Thanh toán qua ngân hàng có ba đặc điểm: Thứ nhắt, Sự vận động của tiền tệ độc lập so với sự vận động của vật tư hàng hóa cả về thời gian và không gian, thông thường sự vận động của tiền trong thanh toán và sự vận động của vật tư hàng hóa là không có sự ăn khớp với nhau. Thứ hai, Thanh toán qua ngân hàng chủ yếu là thanh toán không dùng. Trong thanh toán không dùng tiền mặt, vật môi giới (tiền mặt) chỉ xuất hiện dưới hình thức kế toán (tiền ghi số) và được ghi chép trên các chứng từ, số kế toán (gọi là tiền chuyển khoản).
Thứ ba, Trong thanh toán qua ngân hàng, vai trò của ngân hàng là lớn. Vai trò của người tổ chức và thực hiện các khoản thanh toán, kể cả NHTW va NHTM, déu rat to lớn trong việc phát triển hệ thống thanh toán của một quốc gia. Tác dụng của thanh toán quan Ngân hàng, Trực tiếp thúc đẩy quá trình vận động của vật tư, hàng hóa trong nền kinh tế, thông qua đó mà các mối quan hệ kinh tế lớn sẽ được giải quyết, nhờ vậy mà quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa được tiến hành bình thường. Nhờ tổ chức tốt công tác thanh toán, ngân hàng tập trung ngày cảng nhiều các khoản vốn tiền tệ trong nền kinh tế, làm tăng thêm nguồn vốn tín dụng để đầu tư vào các quá trình tái sản xuất mở rộng.
Ngân hàng với tư cách là một đơn vị kinh tế tài chính tông hợp, là bộ máy thần kinh của nền kinh tế, thông qua việc tổ chức thanh toán, để hạn chế những thiệt hại, khắc phục và ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra trong sản xuất kinh doanh của các đơn vị. Các dịch vụ thanh toán trong nước qua Ngân hàng Thanh toán qua ngân hàng được tiến hành theo các hình thức thanh toán khác nhau. Theo các văn bản pháp lý hiện hành, ở Việt Nam, đối với thanh toán trong nước đang thực hiện các hình thức thanh toán qua ngân hàng như sau: ~ Thanh toán bằng Lệnh chỉ hoặc Ủy nhiệm chỉ ~ Thanh toán bằng Séc ~ Thanh toán bằng Nhờ thu hoặc Ủy nhiệm thu ~ Thanh toán bằng Thẻ ngân hàng ~ Thanh toán bằng Thư tín dụng trong nước ~ Thanh toán bằng thẻ thanh toán ~ Thanh toán khác a. Thanh toán bằng Ủy nhiệm chi/lệnh chỉ (chuyển khoản) Ủy nhiệm chỉ / lệnh chỉ (gọi tắt là lệnh chỉ) là hình thức thanh toán trong đó người trả tiền nộp lệnh thanh toán theo mẫu bằng giấy hoặc chuyển lệnh bằng các hình thức khác, yêu cầu tô chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mở tài khoản chỉ trả vô điều kiện một số tiền từ TK cho người được chỉ định.
10 Cụm từ “vô điều kiện” hàm ý việc chỉ trả cho người hưởng không phụ thuộc vào việc chứng minh giao dịch hàng hóa, dịch vụ đã diễn ra. Ủy nhiệm chỉ được áp dụng trong các trường hợp sau: ~ Người trả và người hưởng có tài khoản tại cùng một tổ chức thanh toán (cùng chỉ nhánh hoặc khác chỉ nhánh) ~ Người trả và người hưởng có tài khoản tại hai tô chức thanh toán khác nhau. Trong thời gian không quá 1 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được iệm chỉ do tổ chức cung ứng địch vụ thanh toán phục vụ người trả tiền gửi đến, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phục vụ người thụ hưởng phải ghi có vào tài khoản của người thụ hưởng theo yêu cầu của lệnh. chỉ hoặc ủy nhiệm chỉ đó b.
Thanh toán bằng Séc "Séc" là phương tiện thanh toán do người ký phát lập dưới hình thức chứng từ theo mẫu in sẵn, lệnh cho người thực hiện thanh toán trả không điều kiện một số tiền nhất định cho người thụ hưởng. Dịch vụ thanh toán séc của một tổ chức cung ứng séc là địch vụ thanh toán ngay séc cho khách hàng khi tờ séc đó được xuất trình và do tổ chức cung ứng séc đó ký phát. Người xuất trình có thể lựa chọn một trong hai nơi như sau: một là, xuất trình tại quầy, điều này có nghĩa là khách hàng có thể xuất trình séc để được thanh toán tại tổ chức cung ứng séc; hai là, xuất trình qua trung tâm thanh toán bù trừ. Ngoài ra, khách hàng cũng có thể nhờ thu séc.
Dịch vụ thu hộ séc do một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác phát hành. Số tiền trên séc được ghỉ có cho khách hàng sau khi được tổ chức thanh toán chấp nhận thanh toán hoặc thanh toán, thông thường trong vòng từ ba đến năm ngày. Séc có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, chẳng hạn, nếu phân loại theo tính chất đảm bảo, séc được chia thành các loại sau " (i) Séc chuyển khoản thông thường: Séc mà khả năng thanh toán tờ séc khi tờ séc được xuất trình trong thời hạn xuất trình không được bảo đảm bởi 'NH thanh toán hoặc bên thứ ba (ii) Séc bảo chỉ: là loại séc được NH thanh toán bảo đảm chỉ trả. (iii) Séc được bảo lãnh: là loại séc được một bên thứ ba (trừ NH thanh toán) bảo đảm chỉ trả toàn bộ hoặc một phần.
Nếu phân loại theo mục đích, séc được chia thành hai loại: (i) Séc tiền mặt: là lệnh của chủ tài khoản yêu câu rút tiền mặt từ tài khoản cho người được chỉ định. (ii) Séc chuyển khoản: là séc mà số tiền trả được chuyển vào tài khoản bằng bút toán ghi có cho TK của người thụ hưởng. Nếu phân loại séc theo tính chất chuyển nhượng, séc chia thành 3 loại: (i) Séc định danh: Séc chỉ trả cho một người xác định và không cho phép chuyển nhượng séc. (ii) Séc chuyển nhượng được: Séc trả cho một người xác định và cho phép chuyển nhượng séc.