Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hạn chế rải ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank Huyện Thanh Chương. Chương 3: Giải pháp tăng cường hạn chế rải ro tín dụng tại Agribank Thanh Chương. CHUONG 1 NHUNG VAN DE CO BAN VE HAN CHE RUI RO TIN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm 'Khái niệm tín dụng đã có từ rất lâu đời, khi bắt đầu có sự phân công lao động. xã hội dẫn tới phát sinh các quan hệ trao đổi và thanh toán do nhu cầu của con người.
Ban đầu hình thức cấp tín dụng chỉ là mua chịu bán chịu các hàng hóa, sau phát triển thành hình thức vay mượn tiền tệ giữa các chủ thể và ngoài khoản vốn vay ban đầu còn phải trả thêm một khoản lãi phát sinh. Có thể đơn giản hiểu tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một khoảng thời gian nhất định thì sẽ thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Lượng giá trị lớn hơn đó chính là lãi vay, hay còn gọi là lợi tức tín dụng. Nguyên thê ban đầu của ngân hàng là các chủ kho quỹ bảo quản tiền hộ cho các lái buôn lớn và lãnh chúa giàu có.
Họ phát hiện ra số tiền trong kho nếu đem bớt một phần cho vay thì ngoài tiền lương nhận được, họ còn lời thêm được một khoản lãi nữa. Ngày nay, phạm vi họat động của ngân hàng đã đa dạng hơn rất nhiều, và do đó khái niệm ngân hàng cũng được mở rộng. Nếu căn cứ theo Luật các tổ chức tín dụng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2010, có thể hiểu ngân hàng là các tổ chức tài chính kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ gồm nhận tiền gửi, cắp tín dụng và các dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Danh từ “Tín dụng” xuất phát từ tiếng Latinh Credium có nghĩa là sự tin tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác là lòng tin.
Theo Điều 4 khoản 14 luật các tô chức tín dụng Việt Nam “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cú nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoán tiền theo nguyên tắc có hoàn trả ” (Quốc Hội, 2010). dich này được thực hiện qua các nghiệp vụ cơ bản gồm cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán, mua trái phiếu doanh nghiệp, thẻ tín dụng và các nghiệp vụ khác. ~ Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc, lãi đầy đủ và đúng hạn. Hoạt động cho vay chiếm phần lớn tổng tài sản và nguồn thu của ngân hàng, đồng thời những rủi ro trong hoạt động ngân hàng chủ yếu tập trung vào danh mục các khoản vay.
Nghiệp vụ cho vay được phân ra làm nhiều sản phẩm theo phương thức trả nợ, theo kỳ hạn cấp vốn. ~ Chiết khẩu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Nghiệp vụ này có rủi ro khi ngân hàng nhận phải những thương phiếu giả mạo, hoặc người chịu trách nhiệm thanh toán thương phiếu mắt khả năng thanh toán trước khi thương phiếu đến hạn. ~ Bảo lãnh: là hình thức cấp tín dụng, theo đó tô chức tín dụng cam kết với bên.
nhận bảo lãnh về việc tỏ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. = Cho thuê tài chính: Hoạt động cho vay là hoạt động tài trợ chủ yếu của ngân hàng cho khách hàng, nhưng trong một số trường hợp khách hàng không đủ điều kiện vay vốn, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng để cho thuê lại. Đây là phương thức vay tài sản thông qua hợp đồng cho thuê, kèm theo lời hứa đơn phương bán cho người thuê một giá nhất định có tính đến những số tiền thuê đã trả. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng phải xuất tiền theo yêu cầu của khách hàng và sau một thời gian nhất định phải thu đủ gốc và lãi, tài sản cho thuê thường là các tài sản cố định.
Hoạt động tài trợ này chứa đựng nhiều rủi ro, khách hàng có thể kinh doanh không hiệu quả, tài sản cho thuê mang tính đặc chủng, khó bán hay cho thuê lại. Tóm lại, tín dụng ngân hàng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các chủ thể trong nẻn kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi. ic diém Các đặc điểm của tín dụng ngân hàng gồm: - Tai sin trong quan hé tin dung ngân hàng là tiền ~ Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngân hàng khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cở sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi quyết định cho vay. - Gia trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc.
~ Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước.thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô. kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Các hình thức tín dụng ngân hàng a) Căn cứ theo thời hạn Thời hạn tín dụng đó chính là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp.
cho khách hàng một khoản tín dụng và nó được xác định cụ thể ngày, tháng, năm. Hay thời hạn tín dụng còn được là thời hạn được tính từ lúc đồng vốn đầu tiên của ngân hàng được phát ra cho đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng phải thu về. Theo thời hạn tin dụng được phân thành ba loại ~ Tín dụng ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. Tín dụng ngắn hạn thường gắn với những khoản vay của doanh nghiệp để bỏ sung vào.
tài sản lưu động và các nhu cầu chỉ tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Tin dung trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng. đến 60 tháng; Các tài sản cố định như phương tiện sản xuất, phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi. các trang thiết bị nhanh hao mòn có nhu cầu nguồn vốn từ I năm đến 5 năm.
~ Tím dụng dài hạn: gồm các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng, trở lên. Thông thường những công trình đầu tư lớn, thu hồi vốn lâu, thuộc tầm vĩ mô như: máy móc thiết bị công nghiệp nặng, xây dựng cầu đường. có nhu cầu nguồn vốn từ 5 năm đến 10 năm có khi tới 20 năm. 5) Căn cứ theo mục đích cho vay Căn cứ theo mục đích cho vay ta có các loại tín dụng sau: - Tín dụng công nghiệp và thương mại: là loại hình cho vay đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ nhằm mục đích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Tín dụng nông nghiệp: là loại hình cho vay đễ trang trải các chỉ phí sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp - Tin dụng tiêu dùng: Là loại hình cho vay đễ đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cá nhân dé tài trợ mua nhà, mua ô tô hoặc các vật dụng gia đình, trang trai chỉ phí du lịch, học tập,. ©) Căn cứ theo tài sản đảm bảo. Nếu căn cứ vào tài sản đảm bảo thì ta có các loại hình tín dụng sau: ~ Tín dụng đảm bảo là loại hình cho vay mà ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có bảo đảm như thế chấp cầm có tài sản hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng trong trường hợp không trả được nợ. Trong trường hợp này khi khách hàng không trả được nợ, hoặc vì sử dụng sai mục đích nguồn vốn vay dẫn đến không thanh toán được thì ngân hàng sẽ bán tài sản đi để thu hồi nguồn vốn.
Loại hình cho vay này thường áp dụng đối với các khách hàng. không có uy tín cao đối với ngân hàng. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thứ hai bô sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. ~ Tín dụng không có tài sản đảm bảo đó là loại hình tín dụng mà khách hàng.
có nhu cầu vay vốn với một hạn mức nhất định mà không cần tài sản đảm bảo. Loại tín dụng này thường được cấp cho các khách hàng có uy tín cao, những khách hàng có mối quan hệ tốt va lâu dài đối với ngân hàng, họ có tình hình tài chính lành mạnh, có mối quan hệ tốt với các tổ chức tài chính. Cũng có thể là các khoản vay thực hiện theo chỉ thị của Chính phủ, hay Chính phủ yêu cầu không cần tài sản đảm bảo. ©) Căn cứ theo theo khách hàng vay vốn Căn cứ theo khách hàng vay vốn, hoạt động tín dụng có thể chia thành: ~ Tín dụng đối với cá nhân: là loại hình cho vay để bù đắp nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy theo mục đích sử dụng vốn vay và nguồn trả nợ của cá nhât - Tín dụng đỗi với tổ chức/doanh nghiệp: là loại hình cho vay đễ phục nhu cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghị Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy vào nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Khái niệm Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM, đem lại lợi nhuận lớn nhất nhưng cũng là loại rủi ro lớn nhất của NHTM.