Chương 1 (31 trang) trinh bay vé nhiing co so ly thuyét liên quan đến Từ ngữ phiếm định và Lý thuyết hành vi ngôn ngữ. Chương 2 (47 trang) trình bày về ba phương thức tác động đến yếu tố phiếm định trong tiếng Việt, ứng với mỗi phương thức nói trên là những hành vi ngôn ngữ cụ thể. Trong mỗi hành vi ngôn ngữ, chúng tôi khái quát thành những cấu trúc ngôn ngữ có chứa từ ngữ phiếm định cụ thể. Dựa trên ngữ liệu đã thu thập, chúng tôi tiến hành phân tích về mặt ngữ pháp và ngữ dụng của từng mô hình cấu trúc.
Chương 3 (46 trang) trình bày những câu dịch tương đương có trong tiếng Anh. Từ đó, chúng tôi tiến hành so sánh - đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hai loại hình ngôn ngữ. 'Kết luận (3 trang) trình bày những vấn đề luận văn đã làm rõ và chưa thé làm rõ. Khái quát vé tr ngit phiém định 1 Trong tiéng Viét Nói dén sit ngit phiém định (TNPĐ) trong tiếng Việt, chúng ta có thể kể đến những từ ngữ như: ai, cái gì, đâu, sao, thế nào,.
Đề tìm hiểu kỹ hơn về lớp từ ngữ này, chúng ta cần xem xét đến khái niệm và cách phân loại của chúng. Khái niệm Tìm hiểu về khái niệm TNPĐ trong tiếng Việt, chúng ta có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau đây: Trong quyền Việt Nam văn phạm, nhóm tác giả Trần Trọng Kim - Bùi Kỹ - Phạm Duy Khiêm (1937) cho rằng các ứiếng phim chỉ “có ¥ noi trong, không chỉ rõ hẳn là ai hay là gì” (tr. Trong quyên Phân tích tự loại & phân tích mệnh đẻ, tác giả Phạm Tắt Đắc (1950) định nghĩa zừ phiếm chỉ là những từ “nói trống không, không chi rð người hay sự vật nào” (tr. Trong quyền Khảo luận vẻ ngữ pháp Việt Nam, hai tác giả Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) định nghĩa zừ öát định là những từ “trỏ cái bất định, diễn tả ý bất định” (tr.
383) Trong quyển Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Liệt, tác giả Nguyễn Kim Than (1964/1997) nhận định những ừ phiến chỉ có “ý nghĩa nói chung, không trỏ vào một sự vật, một tính chất, một trạng thái cụ thê nào” (tr. Trong bài đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ (số 3) “Một số phương thức thể hiện ý tuyệt đối”, tác giả Nguyễn Đức Dân (1985b) đã gọi lớp từ ngữ này là từ phiếm định. Theo quan điểm của tác giả, đây là những từ không có vật quy chiếu (referent) (tr. Trong 7ừ điển tiếng Liệt do tác giả Hoàng Phê (1988/2010), đại sr phiém chỉ được định nghĩa là từ ngữ “chỉ chung chung, không rõ ràng, cụ thể người nào, sự vật nào” (tr.
Trong Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt (Phần Từ loại), tác giả Dư Ngọc Ngân (2002) định nghĩa đại tir phiém chỉ được dùng để “thay thế cho người hay vật không xác định” (tr. Trong quyển Ngữ pháp chức năng tiếng Việt - quyến 2, Ngữ đoạn và từ loại, nhóm các tác giả Cao Xuân Hạo - Nguyễn Văn Bằng - Hoàng Xuân Tâm - Bùi Tất Tươm (2005a) định nghĩa dai tir chwa xdc định thường “dùng để chỉ (thường là trực chỉ) những sự vật (người, động vật, vật vô trì) hoặc những sự tình chưa được xác định” (tr. 88) Trong luận án Tiến sĩ Ngữ Văn về Từ phiếm định trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh), tác giả Đình Văn Sơn (2013) định nghĩa ¿ừ phiếm định trong tiếng Việt là “từ không có quy chiếu xác định” (tr. Như vậy, thông qua các định nghĩa vừa nêu, chúng ta nhận thấy có hai vấn đề cần làm rõ.
Thứ nhất, về tên gọi, tùy vào từng tác giả mà lớp từ ngữ này có những tên gọi khác nhau, có thể kề đến như: riếng phiếm chỉ theo cách gọi của Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ - Phạm Duy Khiém (1937),.; 1 bắt định theo cách gọi của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963),. hoặc rừ phiếm chỉ theo cách gọi của Phạm Tắt Đắc (1950), Nguyễn Kim Thản (1964/1997), Bùi Đức Tịnh (1966). Ngoài ra, chúng còn được gọi 1a dai tir phiém chi theo cách gọi của Hoàng Phê (1988/2010), Dư Ngọc Ngân (2002), Vũ Thị Ân và Nguyễn Thị Ly Kha (2009), Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung (20130). hay đại sừ chưa xác định theo cách gọi của nhóm các tác giả Cao Xuân Hạo - Nguyễn Văn Bằng - Hoàng Xuân Tâm - Bùi Tất Tươm (2005a) Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi thống nhất gọi tên lớp từ ngữ này là từ ngữ phiếm định theo như cách gọi của Nguyễn Đức Dân (1985b), Dinh 'Văn Sơn (2013) và một số tác giả khác.
Thứ hai, về khái niệm, tùy vào từng tác giả mà cách diễn đạt định nghĩa cũng có phần khác nhau đôi chút. Thế nhưng, nhìn chung, chúng đều quy về một ý nghĩa duy nhất: đây là lớp từ ngữ chỉ chung chung, không chỉ rõ vào bất kỳ đối tượng cụ thể nào. Do đó, để tổng kết và đưa ra một định nghĩa chung cho toàn luận văn, chúng tôi xin phép được trình bày định nghĩa của mình như sau: Từ ngữ phiếm định là những từ ngữ không có vật quy chiếu. Phân loại Tìm hiểu về việc phân loại của TNPĐ trong tiếng Việt, chúng ta cần phân tích lại một lần nữa những công trình nghiên cứu đã nêu.
Nhóm tác giả Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ - Phạm Duy Khiêm (1937) trong công trình nghiên cứu của mình có đề cập đến 2 nhóm TNPĐ như sau: s Các phiếm chỉ định tự như: nào, mô, gì, chỉ thường được “dùng đứng sau tiếng danh tự đề chỉ định tiếng ấy và có ý nói trồng, không chỉ rõ hắn là ai hay là gì” (tr. 59) (1) Lúc lơ dang chắc cậu nhớ đến môt người nào đó có giọng nói giống đôi. 252), © Các phiếm chỉ đại danh tự là tiếng “có thê thay tiếng danh tự dé chi trồng” (tr. Chúng được phân chia cụ thể thành 2 loại: > Cac phiếm chỉ đại danh tự chỉ về người như: ai, ai ai, nấy, ai nấy, người, người ta, người ta ai, kẻ.
(2) Hiển nhiên ai cũng đoán ra một câu chuyện mang dáng dấp một thiên tình sử đẹp nhất thế gian này! (TYSCT, tr. 649) > Các phiếm chỉ đại danh tự chỉ chung về người và sự vật như: cả, cả thảy, tắt, tắt cả, hết, hết cả, hết thảy. (3) Tất cả những cái đó đều đáng nói, nhưng cũng đều không đáng nói phải không ông? (TYSCT, tr. 112) Tác giả Phạm Tắt Đắc (1950) đề ến các nhóm TNPĐ như sau: 10 © Cac phiém chỉ định tự như: gi (chi), nào, mô, khác.
Trong đó, tác giả lấy tiêu chí dấu hỏi (2) để phân biệt các nghỉ vấn chỉ định tự với các phiếm chỉ chỉ định tự (tr. (4) Có viếc gì đấy con? (TYSCT, tr. 385), —> Gì: nghỉ vấn chỉ định tự. (5) Việcgi cũng làm được.
495) — Gi: phiém chi chi dinh tu. Ngoài ra, trong các phiếm chi chỉ định xự đã nêu, từ khác ở đây không phải là tĩnh tự &ñác mang ý nghĩa “khác biệt, không giống nhau” như chúng ta đã biết, mà từ khác mang ý nghĩa “chỉ chung chung một đối tượng sự vật nào. 41), như ví dụ dưới đây: (6) Trong căn phòng được coi như hết phẩn lãnh thổ của một nước cảnh tượng chẳng khác gì cõi hỗn mang (TYSCT, tr. 485) ~> Khác: tĩnh từ, ý chi sự khác biệt trong tính chất sự việc.
(1) Một tụi khác chạy tản đi rình tóm những con loăng quăng lúc nào cũng nhan nhản trên đường (TYSCT, tr. 683) —> Khác: phiếm chỉ chỉ định từ, mang ý nghĩa khái quát nói chung về một nhóm người nào đó, mà cụ thể ở đây là “một tụi nào đó”. © Các phiếm chỉ đại danh tự như: ai, ai nấy, người, người ta, người ta di, kẻ, gì.J, cơm ai nấy ăn, giường ai nấp nằm, không có gì khác trước (TYSCT, tr. Tác giả Phạm Tắt Đắc (1950) phân tích rõ từ z (phiếm chỉ đại danh tự) sẽ được dùng làm chỉ định túc từ cho danh tự như: cơm, giường; còn từ nấy (phiếm chỉ đại danh tự) sẽ được dùng làm chủ từ cho động tự như: ăn, nằm (tr42).
Vì vậy, ta có thể tái lập ví dụ trên thành: “cơm ai người ấy ăn, giường, ai người ấy Jim” 1I Hai tác giả Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) không đề cập đến việc phân loại các nhóm TNPĐ mà chỉ liệt kê các từ ngữ: chướ, bao nhiêu, mấy, gì, đâu, sao có khả năng trỏ cái bất định dùng trong cả câu thường hoặc câu hỏi (tr. 383) Tác giả Nguyễn Kim Than (1964/1997) phan chia cic dai tir nghỉ vấn trong tiếng Việt thành 2 nhóm chính như sau (tr. 296-303): ® Dùng để hỏi về sự vật và số lượng, gồm có: hỏi về người (4¡), hỏi về số lượng (máy, bao, bao nhiêu), hỏi về thời gian (bao giỏ), hỏi về địa điểm (đâu). Ngoài ra, gì và nào cũng là hai đại tir nghỉ vấn thường được dùng làm định ngữ cho danh từ.
® Dùng để hỏi về tình hình và tính chất của sự vật, gồm c6: thé ndo, sao. Sau khi tiến hành phân loại cụ thể các đại ứừ nghỉ vấn, tác giả nhắn mạnh “tất cả các đại từ nghỉ vấn đều có thê có ý nghĩa phiếm chỉ” (tr. Ý nghĩa của đại từ nghỉ vấn trở nên phiếm chỉ trong một số trường hợp sau đây (tr. 303-306): 'Thứ nhất, khi chúng đặt trước phó từ cững.
(9) Đâu cũng đất nước mình, chẳng ai dé minh chết đói đâu (TYSCT, tr. 38) Thứ hai, khi chúng được đặt trong câu phủ định. (10) Nhiều lúc nghe ông nói tiếng mẹ đẻ mà chả hiểu ông nói gi. Doc một văn bản do ông thảo cũng chã hiểu ông viết gi (TYSCT, tr.
Thứ ba, khi chúng kết hợp với bát kỳ, bắt luận, bắt cứ, vô luận. (11) Tôi tin là nếu chiếc Pratica trung thành với tôi thì phen này tôi có thể đánh ngã bất kỳ một bức ảnh mô tả phong cảnh biển nên thơ nào từ trước (TYSCT, tr. Thứ tư, khi câu nghỉ vấn có ý nghĩa phủ định. Đôi khi, có tới hai đại từ nghi vấn cùng xuất hiện như: ai, gì, nào, bao,.
kết hợp với đâu. 12 (12) Tôi bỏ quấn mãi, chỉ sở mó thôi chứ mắt có thấy gì nữa đâu! (TYSCT, tr. 'Thứ năm, khi chúng được láy lại (13) Vì ở chiến trường đâu đâu cũng thiếu nước, thiếu điều kiện làm vệ sinh (TYSCT, tr. Thứ sáu, khi chúng được đặt trong câu liên hoàn (hoặc trong quán ngữ đặt theo kiểu liên hoàn).
(14) Mi đã bắt tay vào làm việc gì là làm đâu ra đấy (TYSCT, tr. (15) Nhà nào nhà Ấy đóng cửa im im (TYSCT, tr. Thứ bảy, khi chúng được đặt trong câu hỏi gián tiếp. (16) Mai kia cần gì cứ nhắn, bồ sẽ đến, [.