Chương I DOANH NGHIỆP TRONG NEN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - SỰ HÌNH THÀNH VA PHÁT TRIEN CUA CÁC LOẠI HÌNH Pg ĐOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM I- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP 1 - Nhận thức về doanh nghiệp trong cơ chế thi trường. Để xác định những luận cứ khoa học và thực tiễn về hình thành và phát triển các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế ở nước ta, trước hết chúng ta cần khái quát hóa và nêu lên những đặc điểm chung nhất của doanh nghiệp. Trong sự phát triển nền kinh tế quốc dân, các doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế, là nơi trực tiếp tạo ra sản phẩm, thực hiện các hoạt động, lưu thông, dịch vụ. để đáp ứng các yêu cầu của xã hội.
Nó được nêu ra với các tên gọi khác nhau. Nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, cửa hàng, công ly. thuật ngữ kinh tế ngày nay gọi các tổ chức kinh tế đó là "doanh nghiệp”. Trai qua hoạt động thực tiễn cho đến nay, chúng ta thấy có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về doanh nghiệp, song các định nghĩa và khái niệm đó chưa thể hiện đầy đủ và toàn diện những đặc điểm chung nhất cho bất kỳ một loại doanh nghiệp nào.
Trong các định nghĩa và khái niệm còn bộc lộ những mặt hạn chế sau: - Các định nghĩa về từng loại hình doanh nghiệp mục đích hoạt động của doanh nghiệp chưa thể hiện rõ, phần lớn đưa ra để phân biệt về ngưồn gốc hình thành tài sản, đặc điểm kinh tế kỹ thuật hay đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp - trong khi đó mục tiêu kinh tế quan trọng nhất củz doanh nghiệp là tìm kiếm và tạo ra lợi nhuận thì chưa được đề cập đến. 4 - Trong các định nghĩa còn có sự nhầm lẫn về phương tiện và mục đích hoạt động của doanh nghiệp thí dụ “trong luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty có ghi: "doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh. Nhưng về thực chất, thực hiện các hoạt động kinh doanh không phải là mục đích của doanh nghiệp mà chỉ là phương tiện để người chủ doanh nghiệp đạt được mục đích là có lợi nhuận tối đa khi tiến hành sản xuất - kinh doanh. - Trong các định nghĩa trước đây những loại hình doanh nghiệp chưa thể hiện rõ mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh doanh, với Nhà nước và với người tiêu dùng.
Sở dĩ các định nghĩa, khái niệm trước đây còn bị những hạn chế chưa phan ánh, đầy đủ bản chất của nó. Các định nghĩa đứng trên các góc độ và quan niệm khác nhau. + Theo quan điểm hệ thống hóa doanh nghiệp là một tổng thể, một hệ thống bao pồm con người và thiết bị được tổ chức lại nhằm đạt được những mục đích nhất định, đó là việc tạo ra một sự cân bằng trong ngân quỹ, tạo ra khả năng sinh lợi của vốn đầu tư làm lợi cho người chủ sở hữu đảm bảo tương lai phát triển của doanh nghiệp. + Theo quan điểm tổ chức quá trình và nội dung, hoạt động của doanh nghiệp thì doanh nghiệp là một tổ chức mà thông qua đó, trong khuôn khổ của một số lượng tài sản nhất định, người ta sẽ lựa chọn những phương pháp kết hợp các yếu tố đầu vào một cách tối ưu nhằm tạo ra những khoản tiền chênh lệch giữa giá bán và phí tốn.
+ Theo quan điểm mục đích hoạt động của doanh nghiệp thì "doanh nghiệp là một tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh như sản xuất; mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận”. 5 Trải qua hoạt động thực tiễn - nền kinh tế thị trường giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa, khái niệm về doanh nghiệp cần phải thể hiện các yêu cầu sau: - Thể hiện đầy đủ những nội dung cơ bản trong hoạt động của bất kỳ một doanh nghiệp nào, trước hết là thể hiện rõ mục đích, chức năng, đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp. - Thể hiện những đặc điểm chung nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp; bất kỳ nó thuộc hình thức sở hữu nào. - Thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các nhân tố, điều kiện khác nhau trong môi trường hoạt động kinh doanh, phải thể hiện rõ phương tiện và mục đích của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Với những yêu cầu trên, chúng ta có thể thấy: "doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động sản xuất, cung cấp, trao đổi những hàng hóa trên thị trường theo nguyên tác tối đa hóa lợi ích của đối tượng tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi ích kinh tê của người chủ sở hữu về tài sản của doanh nghiệp, đồng thời kết hợp mội cách hợp lý các mục tiêu xã hội”. Với những nội dung như vậy chúng ta có thể nêu lên một số đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp như sau: | - Chức năng kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm sản xuất cung ứng, trao đổi, hợp tác và tiêu thụ nhằm mục đích sinh lợi. 2 - Mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi ích kinh tế, mục tiêu này mang tính toàn diện và bao quát hơn mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, bởi lẽ lợi ích kinh tế không chỉ đơn thuần là lợi nhuận được từ hoạt động san xuất kinh doanh, mà còn là khả năng phát triển của doanh nghiệp, uy tír của doanh nghiệp trên thị trường. Đó là nguồn tài sản vô hình tạo nên giá tr và vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.
3 - Doanh nghiệp luôn tìm cách thỏa mãn tối đa lợi ích của đối tượng tiêu dùng, xem đó là phương tiện để đạt lợi ích cạnh tranh nhằm tối đa hó: lợi nhuận và nâng cao gía trị tài sản của doanh nghiệp trên thị trường, nó cách khác doanh nghiệp thông qua việc thỏa mãn nhu cầu của khách hang để thu được lợi nhuận cao, ổn định sản xuất. 4 - Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp là một điều kiện cơ bản. quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong hệ thống kinh tế quốc dân Nó do Nhà nước khẳng định và xác định. Việc khẳng định tư cách phát nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh tế đòi hỏi doank nghiệp phải chịu trách nhiệm pháp lý, về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể.
5 - Thông qua hệ thống luật pháp và chính sách của Nhà nước, doanF nghiệp điều hòa những đối kháng hay bất dong giữa muc tiêu kinh tế củ: doanh nghiệp với mục tiêu xã hội. 6 - Doanh nghiệp phải tôn trọng quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, mọi hoạt động nhằm tao ra sự tăng trưởng thu nhập của doanh nghiệr không được vi phạm quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Quyền lợ đó phải được Nhà nước và các tổ chức xã hội bảo vệ và công nhận. 7 - Hoat động kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự chi phối và tác động của môi trường kinh tế - xã hội.
Để các doanh nghiệp có thể tồn tại vì phát triển, Nhà nước cần phải tạo ra môi trường kinh tế ổn định như hé thống luật pháp; đường lối phát triển kinh tế - xã hội. Sự tăng trưởng củ: nền kinh tế, sự ổn định sức mua của đồng tiền, chính sách bảo hộ sản xuất mục đích. 8 - phương thức hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc tìm hiểt nhu cầu thị trường, khách hàng để từ đó hoạch định chiến thuật, chiến lược kinh doanh đúng dan. 9 - Doanh nghiệp chỉ tiến hành sản xuất, bán cái mà thị trường cần chứ không bán cái mình có sẵn mà thị trường không cần.
10 - Doanh nghiệp phải luôn nghiên cứu thị trường để giúp cho doant nghiệp thích ứng linh hoạt cới sự biến động của thị trường. Như vậy, doanh nghiệp xuất hiện trên thị trường với tư cách là một tác nhân kinh tế thực thụ hợp tác, cạnh tranh, tìm kiếm các cơ hội kinh doanh có lợi, loại trừ hoặc vượt qua các rủi ro. Để tồn tại và phát triển, mọi doanh nghiệp đều phải đối mặt với thực tế là các nguồn lực các tiềm năng có xu hướng khan hiếm và sự giới hạn, do đó mọi doanh nghiệp phải lựa chọn trên ba mặt cơ bản sau đây: Thứ nhất: Nên sản xuất cái gì, số lượng bao nhiêu? Thứ hai: Sản xuất như thế nào nghĩa là dùng công nghệ nào, loạ nguyên liệu gì, sản xuất ở đâu, ai sản xuất, quy mô như thế nào, tổ chức sản xuất ra sao? Thứ ba: Sản xuất cho ai? hay nói cách khác ai sẽ được hưởng bac nhiêu? phục vụ cho những người Ở lứa tuổi nào, mức thu nhập cao hay thấp. Trong kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, doanh nghiệp l mot tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục đích sinh lợi và lấy hoạt động kinh doanh làm nghì chính, tức là doanh nghiệp phải có đủ hai điều kiện.
Mội là: Phải được thành lập theo đúng thể thức do luật định. Hai là: Phải trực tiếp thực hiện một số hoặc toàn bộ công đoạn củ: quá trình đầu tư hoặc thực hiện dịch vụ nhằm sinh lời. 2 - Phân loại doanh nghiệp - cơ sở để hình thành các loại hint doanh nghiệp. a - Mot số quan điểm đối với doanh nghiệp trong nền kinh té th Irường Ở nước ta.
+ Đối với doanh nghiệp quốc doanh (Nhà nước). Trước mắt và trong tương lai, doanh nghiệp Nhà nước vẫn có vai tr hết sức quan trọng, có tính chất then chốt, chủ đạo trong nền kinh tế da biệt là Tp một số lĩnh vực. Tuy vậy cũng không nên dé cho các doan nghiệp Nhà nước tồn tại tràn lan, nhất là các lĩnh vực, các ngành không nhất thiết phải nắm, cần tổ chức sắp xếp lại, các doanh nghiệp Nhà nước theo hướng củng cố, kiện toàn để các doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả và làm tốt chức năng nhiệm vụ của mình là một loại công cụ, là cơ so vật chất - kỹ thuật của Nhà nước có tác động điều tiết nền kinh tế - các doanh nghiệp Nhà nước chỉ nền nắm giữ một số ngành, lĩnh vực có vị trí quan trọng, việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước có thể thực hiện theo các huớng. Đầu tư tập trung ưu tiên cho các loại doanh nghiệp Nhà nước theo thú tự.
Thứ nhất: Làm ăn có hiệu quả.