CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG VÀ THỰC TRẠNG MUA BÁN HÀNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN KHI MUA HÀNG QUA FACEBOOK.1 Tổng quan về hoạt động mua hàng và sự hài lòng của khách hàng cá nhân 1.1 Giới thiệu về facebook Facebook là một website dịch vụ mạng xã hội và truyền thông xã hội do công ty Facebook, Inc điều hành với trụ sở tại Menlo Park, California. Mark Zuckerberg lập trang Facebook ngày 4 tháng 2 năm 2004 cùng với bạn bè là sinh viên khoa khoa học máy tính và bạn cùng phòng Eduardo Saverin, Andrew McCollum, Dustin Moskovitz và Chris Hughes khi Mark còn là sinh viên tại Đại học Harvard. Tên Facebook bắt nguồn từ cuốn sổ có hình chân dung (face book) của tất cả các sinh viên trong các trường đại học Mỹ Việc đăng ký thành viên website ban đầu chỉ giới hạn cho những sinh viên Harvard, nhưng đã được mở rộng sang các trường đại học khác tại khu vực Boston, Ivy League, và Đại học Stanford.
Sau đó nó được mở rộng hơn nữa cho sinh viên thuộc bất kỳ trường đại học nào, rồi đến học sinh phổ thông và cuối cùng là bất cứ ai trên 13 tuổi. Sau khi Facebook mở rộng ra toàn thế giới thì độ tuổi tối thiểu có thay đổi phù hợp đặc thù của từng quốc gia Tính đến tháng 9 năm 2012, Facebook hiện có hơn một tỷ thành viên tích cực trên khắp thế giới. Với con số ấy, Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất, tiếp theo sau là MySpace và Twitter. Hiện tại, Facebook có số lượt truy cập đứng thứ hai trên toàn thế giới chỉ sau Google.
Facebook đã gặp phải một số tranh cãi trong những năm qua. Nó đã bị cấm một thời gian tại một số quốc gia, trong đó có Trung Quốc Hầu hết doanh thu của Facebook có từ các quảng cáo xuất hiện trên màn hình, tiếp cận tiếp thị cho khách hàng đến người dùng và cung cấp các cơ hội quảng cáo có tính chọn lọc cao Luan van 11 Facebook cũng đã bị cấm tại nhiều công sở để hạn chế nhân viên tốn thời gian sử dụng dịch vụ. Quyền riêng tư trên Facebook cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Do khối lượng lớn dữ liệu cá nhân mà người dùng gửi đến dịch vụ này, Facebook đã bị các tổ chức quan tâm đến quyền riêng tư theo dõi chặt chẽ.2Hoạt động mua hàng qua facebook 1.1 Hành vi mua hàng Theo Bennet (1988), hành vi mua sắm của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ.
Theo Loudon & Bitta (1993), hành vi khách hàng là quá trình ra quyết định và hành động thực tế của các cá nhân khi đánh giá, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ những hàng hóa, dịch vụ. Theo Schiffiman & cộng sự (1997), hành vi người tiêu dùng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ. Theo Schiffman & Kanuk (1997), hành vi khách hàng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ra trong quá trình trao đổi sản phẩm, bao gồm : điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá và xử lý thải bỏ sản phẩm và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ. Theo Lamb & cộng sự (2000), hành vi của người tiêu dùng là một quá trình mô tả cách thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản phẩm hay dịch vụ.
Theo Blackwell & cộng sự (2006), hành vi khách hàng là những hành động liên quan trực tiếp đến việc có được, tiêu dùng và xử lý thải bỏ những hàng hóa và dịch vụ, bao gồm các quá trình quyết định trước và sau những hành động này. Theo Philip Kotler (2001), người làm kinh doanh nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ. Cụ thể là Luan van 12 xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của mình. Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng hiện nay còn đi xa hơn các khía cạnh nói trên.
Đó là người tiêu dùng được các nhà kinh doanh tìm hiểu xem họ có nhận thức được các lợi ích của sản phẩm, dịch vụ họ đã mua hay không và cảm nhận, đánh giá như thế nào sau khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Vì điều này sẽ tác động đến những lần mua hàng sau đó của người tiêu dùng và tác động đến việc thông tin về sản phẩm của họ đến những người tiêu dùng khác. Vì thế, người làm marketing phải hiểu được các nhu cầu và các yếu tố tác động, chi phối hành vi lựa chọn của khách hàng. Philip Kotler (2001) đã hệ thống diễn biến của hành vi người mua hàng qua hình sau: Các yếu tố Những phản marketing và “Hộp đen” ý thức của ứng đáp lại các tác nhân của người kích thích người mua mua Hình 1.1: Hành vi của người mua hàng Nguồn: Philip Kotler (2001) 1.2 Hoạt động mua hàng trực tuyến Mặc dù thói quen mua sắm trực tuyến đang trở lên phổ biến phổ biến ở Việt Nam.
Phân khúc thị trường này hứa hẹn nhiều tiềm năng trong thời gian tới do Internet ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình mua sắm. Khảo sát của Google cho thấy, có 19% số người online có mua sắm trực tuyến trong vòng 1 tuần qua (xét tại thời điểm khảo sát), và 55% tìm kiếm thông tin online nhưng Luan van 13 mua sắm offline. Thiết bị sử dụng để mua sắm online là PC/Laptop (77%), Điện thoại thông minh (14%) và Máy tính bảng (4%). 44% số người online chưa từng mua hàng trực tuyến nhưng có mong muốn mua hàng trên mạng trong vòng 12 tháng tới, mặt hàng mà nhóm người này dự định mua là quần áo.
Khi mua online, người mua thường cân nhắc, xem xét 1 đến 3 nhãn hiệu và nghiên cứu thông tin về sản phẩm qua Internet (Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam, 2017) 1.3 Hoạt động mua hàng qua facebook Mua hàng qua facebook là hình thức khách hàng thực hiện tìm kiếm, xem sản phẩm và đặt hàng qua kênh mạng xã hội facebook. Với số lượng người bán nhiều thì việc mua hàng trên facebook đang trở lên dễ dàng và thuận tiện với khách hàng có sử dụng facebook. Việc mua hàng có thể thực hiện mọi lúc, mọi nơi khi khách hàng đang đăng nhập facebook và có nhu cầu tìm kiếm sản phẩm để mua. Trong trường hợp khách hàng đặt mua vào thời điểm cửa hàng không trực tuyến thì mọi thông tin đặt hàng đều được người bán tiếp nhận và xử lý, liên hệ lại với khách hàng đã đặt khi trực tuyến trở lại.
Mua hàng qua facebook là một trong các hình thức mua hàng trực tuyến (các hình thức mua hàng trực tuyến: mua hàng trên website, trên ứng dụng điện thoại). Mua hàng qua facebook được coi là đa dạng với nhiều hình thức mua từ các hình thức bán khác nhau: mua hàng qua trang cá nhân người bán, mua hàng qua livestreams của người bán, mua hàng qua bài đăng trên trang bán bàng và qua các quảng cáo trên facebook- quảng cáo dẫn tới website bán hàng). Với đặc thù mua hàng trực tuyến, các sản phẩm mua được khách hàng nhìn nhận qua hình ảnh và video nên không đúng 100% như giới thiệu. Từ đó, không ít khách hàng mua phải sản phẩm không mong muốn khi nhận hàng, mặc dù khi xem hình ảnh trên facebook tỏ ra ứng ý.
Do đó, việc mua hàng qua facebook gặp phải nhiều rủi ro hơn so với cách thức mua hàng truyền thống.3 Hoạt động bán hàng qua facebook 1.1 Bán hàng qua internet nói chung Luan van 14 Hoạt động bán hàng qua internet có thể được định nghĩa là cách thức bán hàng nhằm tiếp cận người tiêu dùng qua môi trường internet. Theo đó, hoạt động bán qua internet của doanh nghiệp thường bao gồm các kênh: trang chủ thương mại điện tử; sàn giao dịch thương mại điện tử; trang chủ khuyến mại trực tuyến; trang chủ đấu giá trực tuyến; mạng xã hội như facebook, twitter… các trang rao vặt, forum… các kênh như mạng xã hội, các trang rao vặt, diễn đàn thường được xem là các kênh quảng cáo, chưa có những quy định cụ thể. Trong khi đó, các kênh như trang chủ thương mại điện tử, sàn giao dịch điện tử, trang chủ khuyến mại trực tuyến (mua hàng theo nhóm), trang đấu giá trực tuyến đã được điều chỉnh bởi pháp luật. Có một số quy định liên quan tới thương mại điện tử như sau: (1) Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác; (2) Trang thương mại điện tử là trang thông tin điện tử được thiết lập để phục vụ một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng háo hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng; (3) Sàn giao dịch thương mại điện tử là trang thương mại điện tử cho phép các thương nhân, tổ chức, các nhân không phải chủ sở hữu trang có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên đó; (4) Trang khuyến mại trực tuyến là trang thương mại điện tử do thương nhân, tổ chức thiết lập để thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, tổ chức, cá nhân khác theo các điều khoản của hợp đồng dịch vụ khuyến mại; (5) Trang đấu giá trực tuyến là trang thương mại điện tử cung cấp giải pháp cho phép thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu trang đó có thể tổ chức đấu giá cho hàng hóa của mình trên đó (Nghị định số: 52/2013/ND-CP) Như vậy, các doanh nghiệp có quy mô hoặc tập trung phát triển trang chính thức của mình hoặc kết hợp với bên thứ ba (chủ sở hữu của các sàn giao dịch thương mại điện tử, trang khuyến mại trực tuyến và trang đấu giá trực tuyến) để Luan van 15 trưng bày, giới thiệu và buôn bán sản phẩm.