CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN CỦA CÁC NGÂN HÀNG 1. Một số khái niệm về thẻ thanh toán Tại các nước phát triển, thẻ thanh toán là một trong những phương tiện không dùng tiền mặt được sử dụng phổ biến nhất và giờ đây Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Xuất hiện từ năm 1993 cho đến nay, thanh toán bằng thẻ ở nước ta đã trở thành một trong những nhân tố hết sức quan trọng góp phần khuyến khích không dùng tiền mặt trong các giao dịch bán lẻ.
Để hiểu rõ được bản chất, tính năng và tiện ích của chiếc thẻ, trước hết chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm thẻ thanh toán. Có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khi nói về thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện các giao dịch thẻ như gửi, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán hàng hóa dịch vụ và sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận [13]. Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán do các ngân hàng, các định chế tài chính phát hành để thực hiện các giao dịch thẻ như rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán hàng hóa dịch vụ tại các máy, quầy tự động của ngân hàng [4]. Như vậy, có thể nói mỗi khái niệm có một cách diễn đạt khác nhau nhưng chung quy đây là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt được phát hành bởi các ngân hàng, các định chế tài chính hoặc các công ty.
Người chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS - Points o f Sales); có thể rút tiền mặt, chuyển khoản tại các ngân hàng đại lý, cơ sở chấp nhận thẻ hoặc tại các máy rút tiền tự động (ATM - Automated Teller Machine). Phân loại thẻ thanh toán. Thẻ thanh toán rất đa dạng và phong phú, chúng ta có thể phân loại chúng dựa trên những tiêu thức sau đây [13]: Xét theo phạm vi sử dụng: có 2 loại thẻ + Thẻ nội địa: là loại thẻ chỉ được sử dụng trong phạm vi một quốc gia và đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ. Thông thường thẻ nội địa là những thẻ ghi nợ do các ngân hàng thương mại phát hành, được sử dụng để rút tiền, thanh toán, chuyển khoản tại các máy ATM và các cơ sở chấp nhận thẻ trong nước.
+ Thẻ quốc tế: là loại thẻ không chỉ được sử dụng trong phạm vi quốc gia mà còn được dùng trên toàn thế giới. Thẻ quốc tế được chấp nhận thanh toán trên toàn cầu và sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán. Xét theo đặc điểm kỹ thuật của thẻ: có 3 loại + Thẻ khắc chữ nổi (embossed card): Đây là loại thẻ sơ khai ban đầu, được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi. Trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết.
Hiện nay loại thẻ này không được sử dụng nữa do kỹ thuật sản xuất thô sơ, tính bảo mật kém và dễ bị làm giả. + Thẻ băng từ (magnetic stripe): Là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước của thẻ vừa được mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ. Loại thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay nhưng trong thời đại khoa học công nghệ phát triển cao nó cũng đã bộc lộ một số nhược điểm như: tính bảo mật không cao, kẻ gian có thể lợi dụng đọc được thông tin và làm thẻ giả, hoặc tạo các giao dịch giả gây thiệt hại cho chủ thẻ và ngân hàng. + Thẻ thông minh (smart card, chip card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tính bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo.
Thông thường một tấm thẻ thông minh được gắn chip điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ. Cũng có trường hợp thẻ thông minh có cả chip điện tử và băng từ. Chip điện tử độc lập với thẻ và được gắn trên bề mặt của thẻ, về bản chất thẻ có thể gồm có 2 loại chip: chip bộ nhớ và chip xử lý dữ liệu. Chip bộ nhớ lưu trữ toàn bộ các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác thanh toán thẻ trong mỗi lần sử dụng còn chip xử lý dữ liệu có khả năng bổ sung, xoá bỏ hoặc điều chỉnh các thông tin trong bộ nhớ.
Thẻ thông minh gắn chip xử lý dữ liệu có khả năng vừa lưu trữ các thông tin về chủ thẻ, điểm thưởng tích luỹ đồng thời lưu trữ cả số liệu về những lần giao dịch của chủ thẻ tại đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT). Tính năng vượt trội này của thẻ thông minh giúp cắt giảm chi phí xử lý đối với ngân hàng và các trung gian thanh toán bởi việc đối chiếu thông tin tài khoản và thông tin của chủ thẻ cũng như việc cập nhật thông tin liên quan tới thẻ giờ đây đã được thực hiện ngay tại ĐVCNT. Xét theo tính chất thanh toán thẻ: có 5 loại thẻ + Thẻ tín dụng (Credit card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ được thực hiện giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. Chủ thẻ phải thanh toán ít nhất mức trả nợ tối thiểu khi đến hạn quy định và sẽ phải trả lãi cho số tiền còn nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trước.
Thẻ tín dụng được xem như một công cụ cho vay tiêu dùng của tổ chức phát hành cấp cho chủ thẻ, ví dụ như: Visa Platinum, Master Card Platinum, Vietravel Platinum, Visa Gold, Visa Classic,. + Thẻ ghi nợ (Debit card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện các giao dịch rút tiền, chuyển khoản, thanh toán hàng hóa, dịch vụ trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ tại tổ chức phát hành thẻ. Loại thẻ này khi mua những hàng hóa, dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách s ạ n ,. và đồng thời ghi “CÓ” ngay vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn đó.
Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động ATM. Với tính chất như vậy, thẻ ghi nợ thường được cấp cho những khách hàng thường xuyên có số dư trên tài khoản tiền gửi. Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản: thẻ online và thẻ offline. Thẻ online là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ.
Thẻ offline là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày (ví dụ: thẻ eTrans, thẻ Harmony, thẻ M oving,. + Thẻ trả trước (Prepaid card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ, tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ và các giới hạn hạn mức giao dịch theo quy định của ngân hàng phát hành thẻ (NHPHT) và ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT). Chủ thẻ trả trước không nhất thiết phải có quan hệ tài khoản với ngân hàng. Ngoài ra, thẻ trả trước có thể sử dụng dưới hình thức thẻ quà tặng, thẻ chuyển tiền, thẻ thanh toán phúc lợi xã hội và thẻ thanh toán du lịch (ví dụ: Thẻ Visa Prepaid, thẻ MasterCard Dynamic,.
+ Thẻ liên kết (Affinity card): là thẻ phát hành trên cơ sở hợp tác giữa NHPHT với các tổ chức có quy mô và uy tín để khai thác nền tảng khách hàng của đối tác liên kết và quảng bá thương hiệu của NHPHT (ví dụ: thẻ liên kết sinh viên- BIDV, thẻ liên kết sinh viên-HDBank, thẻ liên kết sinh viên-ACB,. + Thẻ đồng thương hiệu (Co-brand card): là thẻ phát hành trên cơ sở hợp tác giữa NHPHT với các tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ có quy mô và uy tín để cho phép Chủ thẻ hưởng các ưu đãi khi giao dịch bằng thẻ với đối tác đồng thương hiệu (ví dụ: Thẻ BIDV-Co.opmart, thẻ BIDV-Lingo, thẻ MobiFone-SeABank, thẻ Vietcombank-Big C ,. ) Xét theo chủ thể phát hành thẻ: thẻ bao gồm 2 loại + Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ được phát hành bởi các ngân hàng. Ngân hàng phát hành thẻ giúp cho khách hàng sử dụng linh hoạt tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng (ví dụ: thẻ Visa card, Master c a rd.
+ Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ do các tổ chức quốc tế lớn phát hành. Các tổ chức này thường là các công ty cung ứng hàng hóa dịch vụ, du lịch và giải trí phát hành thẻ để tạo thêm tiện ích cho khách hàng cũng như thuận lợi trong việc quản lý tài chính và kích thích tiêu dùng (ví dụ: thẻ Affinity card, thẻ Co-brand card, thẻ Charge c a rd. Các tổ chức phi ngân hàng phát hành thẻ được biết đến trên thế giới gồm: Diner’s Club, Visa, EuroPay, UnionPay, American Express,. Xét theo chủ thể đăng ký sử dụng thẻ: có 2 loại + Thẻ cá nhân: đây là loại thẻ do cá nhân đăng ký sử dụng để thực hiện các giao dịch của bản thân, chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán thông qua số tiền ký quỹ trong tài khoản cá nhân mở tại ngân hàng.
+ Thẻ công ty: đây là loại thẻ do ngân hàng phát hành cho công ty để các nhân viên công ty sử dụng, công ty sở hữu thẻ và chịu trách nhiệm về việc sử dụng thẻ. Thẻ ATM Thẻ ATM là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt ra đời trên cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại trong lĩnh vực ngân hàng. Đây là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép chủ thẻ tiếp cận trực tiếp tới tài khoản tại ngân hàng từ máy rút tiền tự động ATM. Kể từ khi được ứng dụng trong thanh toán ngân hàng vào cuối thập niên 60 thế kỷ trước, thẻ ATM đã rất được khách hàng của ngân hàng chấp nhận sử dụng.