Chương 1. “Tổng quan”: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. “Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu”: Trình bày cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ, giá, sự thỏa mãn và lòng trung thành, phương pháp đo lường, và tóm tắt lại một số nghiên cứu về chất lượng dịch vụ, từ đó hình thành nên mô hình nghiên cứu. “Phương pháp nghiên cứu”: Trình bày về phương pháp, quy trình nghiên cứu cũng như các phương pháp ứng dụng trong phân tích dữ liệu.
“Kết quả nghiên cứu”: Trình bày về quy trình phân tích và kết quả nghiên cứu định lượng để kiểm định thang đo, mô hình và các giả thuyết đề ra. “Kết luận”: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, các đóng góp cũng như các hạn chế của nghiên cứu và một số định hướng cho nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày các khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu, cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn khách hàng và lòng trung thành của khách hàng, mô hình nghiên cứu, và các giả thuyết cũng sẽ được đề cập đến trong chương này. Chương 2 gồm phần chính : (2.2) Các nghiên cứu trước đây; (2.3) Mô hình nghiên cứu và (2.4) Các thang đo sử dụng trong các nghiên cứu trước đây.1 Định nghĩa Theo Bùi Nguyên Hùng, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan 2004 “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau.
Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng”. Theo Gronross (1990, trích từ Yong & ctg, 2004), “dịch vụ là một hoạt động hoặc nhiều hoạt động mà ít hay nhiều đều mang tính vô hình nhưng không nhất thiết đều là vô hình, diễn ra trong quá trình tương tác giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ, và/ hoặc sản phẩm, và/hoặc hệ thống cung cấp dịch vụ, được thực hiện để đáp ứng những nhu cầu của khách hàng”. Mặc dù có nhiều định nghĩa khách nhau về dịch vụ tùy thuộc vào tác giả nhưng hầu hết đều cho rằng dịch vụ là một quá trình trong đó có sự tương tác giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng dịch vụ có 3 đặc điểm chính là tính vô hình, tính không đồng nhất và tính không thể tách rời.
6 Thứ nhất, phần lớn dịch vụ được xem là sản phẩm vô hình. Tính vô hình thể hiện ở chỗ dịch vụ là một quá trình chứ không phải là một sản phẩm cụ thể do đó dịch vụ không thể sờ mó, nắm bắt, cân đo, đong đếm tồn trữ, thử nghiệm hoặc kiểm định trước khi mua. Thứ hai, dịch vụ không đồng nhất, đặc biệt đối với những dịch vụ có hàm lượng sức lao động cao. Tính không đồng nhất liên quan đến sự biến thiên cao trong việc thực hiện dịch vụ.
Chất lượng của một dịch vụ thường thay đổi tùy thuộc vào nhà cung cấp, khách hàng và thời gian. Việc đòi hỏi chất lượng dịch vụ đồng nhất từ đội ngũ nhân viên cũng rất khó khăn bởi vì những gì công ty dự định cung cấp cho khách hàng có thể hoàn toàn khác với những gì khách hàng nhận được (Parasuraman & ctg 1985) Thứ ba là sản xuất và tiêu dùng sản phẩm của rất nhiều dịch vụ là không thể tách rời. Dịch vụ khác hàng hóa ở chỗ hàng hóa được sản xuất trong nhà máy đưa vào kho rồi chuyển đến người tiêu dùng, còn một dịch phải sử dụng ngay trong quá trình tạo ra dịch vụ. Ví dụ như dịch vụ khám chữa bệnh, hớt tóc.
Theo Christian Homburg và Bernd Garbe (1999) dịch vụ được chia làm hai nhóm chính là dịch vụ cung cấp cho cá nhân hoặc một nhóm cá nhân gọi là dịch vụ khách hàng (consumer services) và dịch vụ cung cấp cho tổ chức hay doanh nghiệp gọi là dịch vụ cho doanh nghiệp (industrial services). Dịch vụ cho doanh nghiệp lại được chia thành dịch vụ được cung cấp bởi các công ty cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp và dịch vụ được cung cấp bởi hãng sản xuất như trong hình 2.2 Dịch vụ sửa chữa và bảo trì máy lạnh Dịch vụ sửa chữa và bảo trì máy lạnh là ngành dịch vụ liên quan đến việc cung cấp dịch vụ sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng tư vấn kỹ thuật cho khách hàng nhằm đảm bảo máy lạnh luôn trong tình hoạt động tốt. Ngành dịch vụ sửa chữa máy lạnh được xếp vào nhóm dịch vụ sau bán hàng. Theo Christian Homburg & Bernd Garbe (1999) thì dịch vụ này được cung cấp bởi các hãng sản xuất máy lạnh.
Tuy nhiên tại Việt Nam hiện nay thì dịch vụ này được 7 cung cấp bởi các nhà phân phối của các hãng sản xuất, các công ty bảo trì, lắp ráp điện lạnh và các cơ sở tư nhân cung cấp dịch vụ. Dịch vụ Cung cấp cho tổ Cung cấp cho cá chức nhân hoặc một nhóm các cá nhân Cung cấp bởi Dịch vụ cho công ty cung doanh nghiệp cấp dịch vụ Dịch vụ cho khách hàng Cung bởi hãng Dịch vụ sản xuất chuyên nghiệp Ngân hàng Dịch vụ công Bảo hiểm Tư vấn quản lý nghiệp Chăm sóc sức Đầu tư khỏe Ngân hàng Thực phẩm Dịch vụ trước Dịch vụ ngay Dịch vụ sau khi bán khi bán khi bán Thiết kế Đào tạo nhân Bảo trì kỹ thuật viên vận hành Hình 2.1 Phân loại dịch vụ theo Christian Homburg và Benrnd Garbe Nguồn: Christian Homburg & Bernd Garbe 1999 2.2 Chất lượng dịch vụ Theo Parasuraman & ctg (1985, 1988) chất lượng dịch vụ là một khái niệm trừu tượng và khó hiểu do các đặc điểm vô hình, không đồng nhất và không thể tách rời của dịch vụ. Các nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ. Theo Lewis & Booms (1983; trích theo Parasuraman & ctg, 1985:42), chất lượng dịch vụ là công cụ đo lường mức độ phù hợp của dịch vụ cung cấp so với 8 mong đợi của khách hàng.
Cung cấp dịch vụ có chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng dựa trên một chuẩn nhất quán. Lehtinen và Lehtinen’s (1982; trích theo Parasuraman & ctg, 1985:43), cho rằng chất lượng dịch vụ được tạo thành trong quá trình tương tác giữa khách hàng và các yếu tố trong công ty cung cấp dịch vụ. Họ cho rằng chất lượng dịch vụ gồm 3 thành phần: chất lượng vật chất (physical quality), chất lượng chung (corporate quality) và chất lượng tương tác (interactive quality). Ở một mức độ cao hơn họ xem chất lượng dịch vụ gồm 2 thành phần chất lượng đầu ra và chất lượng quá trình.
Gronross (1984) giới thiệu mô hình chất lượng dịch vụ gồm 2 thành phần như hình 2.2: (1) chất lượng kỹ thuật ;(2) chất lượng chức năng. Trong mô hình này chất lượng kỹ thuật đề cập đến những gì mà khách hàng nhận được nghĩa là kết quả của quá trình vận hành dịch vụ, ví dụ một món ăn trong nhà hàng, một giải pháp cung cấp bởi công ty tư vấn. Còn chất lượng chức năng chính là quá trình tương tác giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ, nghĩa là cách thức dịch vụ được thể hiện và cung cấp như cách mà nhân viên thực hiện, những gì họ nói với khách hàng và cách thức thực hiện dịch vụ. Mô hình cũng cho rằng hình ảnh của doanh nghiệp cũng có thể là một thành phần chất lượng dịch vụ và có ảnh hưởng đến cảm nhận chất lượng dịch vụ của khách hàng.
Khách hàng nhận thức chất lượng dịch vụ dựa vào đánh giá giữa kỳ vọng của họ và thực tế nhận được có tính đến ảnh hưởng của hình ảnh doanh nghiệp. 9 Dịch vụ Dịch vụ Chất lượng dịch vụ được cảm nhận mong đợi nhận được Các hoạt động tiếp thị truyền thống và các ảnh hưởng bên Hình ảnh ngoài do tập quán, hệ tư tưởng và truyền miệng Chất lượng kỹ thuật Chất lượng chức năng Cái gì? Thế nào? Hình 2.2 Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronroos (Nguồn: Gronroos, 1984:40) Trên cơ sở tổng hợp các lý thuyết có trước, trong đó có xem xét ý tưởng lý thuyết trong mô hình của Gronroos (1984), và kết hợp với các nghiên cứu khám phá khác, Parasuraman & ctg (1985, 1988, 1991) đã đưa ra mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ và phát triển thang đo SERVQUAL. Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ, được trình bày ở Hình 2.3: 10 Thông tin truyền Kinh nghiệm Nhu cầu cá nhân miệng trước đây Dịch vụ mong đợi GAP 5 Khách hàng Dịch vụ nhận được Nhà cung cấp dịch vụ Cung cấp dịch vụ Thông tin đến khách hàng (trước và sau khi cung cấp) GAP 4 GAP 3 Diễn giải nhận thức thành các đặc tính chất lượng GAP 1 dịch vụ GAP 2 Nhận thức của nhà cung cấp dịch vụ về mong đợi của khách hàng Hình 2.3: Mô Hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman (Nguồn Parasuraman, A., (1985):22 Khoảng cách thứ nhất (GAP1) là khác biệt giữa nhận thức của nhà cung cấp dịch vụ và mong muốn của khách hàng. Khoảng cách thứ hai (GAP2) là khác biệt giữa những đặc tính của chất lượng dịch vụ và nhận thức của nhà cung cấp dịch vụ về mong đợi của khách hàng.
Khoảng cách thứ ba (GAP3) là khác biệt giữa việc chuyển giao dịch vụ cho khách hàng và đặc tính của chất lượng dịch vụ đã được xác định. Khoảng cách thứ tư (GAP4) là khác biệt giữa những thông tin thông báo cho khách hàng và việc chuyển giao dịch vụ cho khách hàng. 11 Khoảng cách thứ năm (GAP5) là khác biệt giữa dịch vụ mong muốn và dịch vụ nhận được. Parasuraman & ctg (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ năm.
Khoảng cách thứ năm này phụ thuộc vào 4 khoảng cách trước đó. Vì thế, để rút ngắn khoảng cách thứ năm, hay làm tăng chất lượng dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ phải nỗ lực rút ngắn 4 khoảng cách này. Cùng với mô hình 5 khoảng cách, Parasuraman & ctg (1985) bằng các nghiên cứu khám phá, cũng đã xác định 10 yếu tố có tính quyết định đối với chất lượng dịch vụ. Các yếu tố này được trình bày trong Hình 2.4 Các yếu tố quyết định Thông tin Nhu cầu Kinh nghiệm chất lượng dịch vụ truyền miệng cá nhân trước đây 1.
Tính tiếp cận được Dịch vụ 2. Truyền đạt thông tin mong đợi 3. Năng lực phục vụ Chất lượng dịch vụ cảm nhận 4.