Chương 1: Giới thiệu về lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn. - Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu được đề xuất và các giả thuyết. - Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu chi tiết - Chương 4: Phân tích dữ liệu và trình bày kết quả phân tích dữ liệu. - Chương 5: Tóm tắt kết quả nghiên cứu, các đóng góp và hạn chế của đề tài, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
4 CHƢƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết, các mô hình lý thuyết đã được nghiên cứu trước. Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết của mô hình. Tổng quan về dịch vụ kiểm nghiệm Dịch vụ kiểm nghiệm hiện nay là một trong những cách thức để kiểm soát đầu ra của sản phẩm cũng như đánh giá được thực trạng tốt, xấu, đạt yêu cầu hay để từ đó có cái nhìn mới hơn, có hướng nghiên cứu để khắc phục hay phát huy vai trò của nó chẳng hạn như một số loại sản phẩm như: đất, nước, rau, quả, chè, thực phẩm, phân bón, gạch, ngói, bê tông… Các khách hàng chính ở đây ta chỉ đề cập đến khách hàng B2B, đầu tiên là các khách hàng như: Cơ sở sản xuất, chế biến hoặc Công ty chuyên sản xuất về thực phẩm, chè thuộc nhóm an toàn vệ sinh thực phẩm. Thứ hai là nhóm đối tượng chuyên sản xuất rau, quả, chè an toàn theo VietGAP, hiện nay nhu cầu an toàn cao nên đòi hỏi các Công ty, Cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh, hộ gia đình trồng rau, quả, chè theo tiêu chuẩn VietGAP do nhà nước quy định.
Thứ ba là các Công ty, nhà máy sản xuất về vật liệu xây dựng cũng phải kiểm nghiệm độ an toàn của các sản phẩm sản xuất của đơn vị mình. Mỗi đơn vị có quy trình kiểm nghiệm từ đầu vào (nhận mẫu, mà hóa mẫu chuyển vào phòng kiểm nghiệm, Phòng kiểm nghiệm sẽ thực hiện theo yêu cầu khách quan vì phòng kiểm nghiệm không được biết khách hàng là ai vì mẫu đã được mã hóa theo ISO để đảm bảo được tính trung thực trong kiểm tra và khách quan khi phân tích. Sau khi có kết quả sẽ được dò soát bởi người có thẩm quyền và sẽ chuyển về cho bộ phận phát hành kết quả trả cho khách hàng) tới đầu ra là tương đối giống nhau vì hiện nay 3 đơn vị đều áp dung theo ISO/IEC 17025 quy định của phòng thí nghiệm chịu sự quản lý của văn phòng công nhận chất lượng, thừa nhận kết quả lẫn nhau của các phòng thí nghiệm trong cả nước. 5 Giá cả hiện nay được áp dụng theo thông tư của nhà nước ban hành tùy vào từng loại đối tượng sản phẩm và giá dịch vụ cho những phần không có trong thông tư của nhà nước ban hành.
Mô tả dịch vụ kiểm nghiệm tại 3 đơn vị: dịch vụ kiểm nghiệm hiện tại được áp dụng và thực hiện theo ISO/IEC 17025 có tên gọi đầy đủ là Yêu cầu chung về năng lực của phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn (General Requirements for the competence of testing and calibration laboratories). ISO/IEC 17025:2005 là tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng áp dụng chuyên biệt cho phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn, do tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO (International Organization for Standardization) ban hành. Đây là tiêu chuẩn được tích lũy kinh nghiệm nhiều năm trong việc tìm kiếm một chuẩn mực chung cho hệ thống quản lý dành cho các phòng thử nghiệm/hiệu chuẩn nhằm đảm bảo kết quả đo lường/thử nghiệm đạt được kết quả tin cậy nhất. Tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 được thiết kế để hợp nhất với tiêu chuẩn ISO 9001 – hệ thống quản lý chất lượng, vì vậy tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 không chỉ đưa ra các yêu cầu để quản lý và đảm bảo năng lực kỹ thuật mà còn bao gồm những quy định về hệ thống quản lý chất lượng để đạt được khả năng đưa ra những kết quả đo lường/thử nghiệm tin cậy cao và được quốc tế thừa nhận.
Dịch vụ kiểm nghiệm tại 3 đơn vị là tương đối giống nhau, kiểm nghiệm được các sản phẩm trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: Thực phẩm, Rau, quả chè, cà phê, Vật liệu xây dựng, đất, nước, tác động môi trường về thử nghiệm Hóa lý, vi sinh, vật liệu xây dựng để phục vụ cho công tác nghiên cứu, điều tra, thử nghiệm, công bố sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, chứng nhận sản phẩm cho các khách hàng có nhu cầu và phục vụ quản lý nhà nước. Ngoài dịch vụ kiểm nghiệm tại phòng kiểm nghiệm thì nhân viên kỹ thuật còn thực hiện dịch vụ trực tiếp cho khách hàng như dịch vụ lấy mẫu kiểm nghiệm tại cơ sở, dịch vụ đo không khí môi trường, kéo trụ điện tại cơ sở là những sản phẩm dịch vụ phải thực hiện tại hiện trường cho khách hàng. Trung tâm Phân tích và Chứng nhận chất lƣợng Lâm Đồng Trung tâm Phân tích và Chứng nhận chất lượng Lâm Đồng là tổ chức Khoa học và Công nghệ trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng được thành lập 6 ngày 29 tháng 6 năm 2010 tại quyết định số 1385/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng. Trước đây, hoạt động Phân tích kiểm nghiệm của Trung tâm trực thuộc Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (từ năm 1987), đến năm 2005 trực thuộc Trung tâm Ứng dụng Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng và từ năm 2010 đến nay là Trung tâm Phân tích và Chứng nhận chất lượng Lâm Đồng.
Hoạt động Phân tích Kiểm nghiệm của Trung tâm Phân tích và Chứng nhận chất lượng Lâm Đồng đã có kinh nghiệm hoạt động trên 20 năm trong các lĩnh vực Kiểm nghiệm Hóa lý, Vi sinh và Vật liệu xây dựng, hoạt động này đã được chứng nhận ISO/IEC 17025:2005 từ năm 2006. Trung tâm thực hiện các chức năng sau: Phân tích - Kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm hàng hóa sản xuất và lưu thông phục vụ công tác quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; Chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy và giám định sản phẩm hàng hóa, quá trình, dịch vụ phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam, quốc tế, khu vực và các tổ chức khác; Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo, chuyển giao công nghệ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Viện Nghiên Cứu Hạt nhân Đà Lạt Viện Nghiên Cứu Hạt nhân Đà Lạt – Trung tâm Phân tích là đơn vị trực thuộc Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt có chức năng thực hiện nhiệm vụ phân tích kiểm nghiệm ngoài phóng xạ ra còn thực hiện nhiều loại mẫu khác nhau như: nước, đất, rau, quả, thực phẩm, phân bón… từ các chỉ tiêu hóa lý cho đến vi sinh… Phân tích - Kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm hàng hóa sản xuất và lưu thông phục vụ công tác quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Thành lập theo Quyết định số 64-CP ngày 26/4/1976 của Thủ tướng Chính phủ, Viện có nhiệm vụ quản lý, vận hành và khai thác Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt và các công cụ khoa học khác để đẩy mạnh các nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật và công nghệ hạt nhân góp phần phát triển KT-XH; xây dựng và phát triển tiềm lực về cơ sở vật chất - kỹ thuật và nhân lực; bảo đảm an toàn cho hoạt động 7 của Viện và hỗ trợ kỹ thuật cho các cơ sở bức xạ khác, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của ngành năng lượng nguyên tử; tham gia nghiên cứu đưa điện hạt nhân vào Việt Nam.
Với tiềm lực hiện có về cơ sở vật chất và đội ngũ gần 200 cán bộ nhân viên, Viện có khả năng tham gia đào tạo cán bộ khoa học công nghệ hạt nhân; Viện là một trong các cơ sở đào tạo Nghiên cứu sinh chuyên ngành vật lý lý thuyết, vật lý hạt nhân nguyên tử, hoá phân tích, hoá phóng xạ và hoá vô cơ.3 Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Lâm Đồng Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Lâm Đồng được thành lập theo Quyết định số 616/QĐ-UBTC, ngày 08/11/1988 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng trên cơ sở sát nhập Trạm vệ sinh phòng dịch, Trạm Bảo vệ bà mẹ trẻ em - sinh đẻ có kế hoạch, Trạm chống lao, Trạm da liễu. Trung tâm Y tế dự phòng Lâm Đồng có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật về y tế dự phòng trên cơ sở định hướng chiến lược của Bộ Y tế và tình hình thực tế của tỉnh trình Giám đốc Sở Y tế phê duyệt. Triển khai thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về: Phòng chống dịch bệnh, đái tháo đường, rối loạn do thiếu I ốt, dinh dưỡng cộng đồng, sức khoẻ môi trường, sức khoẻ trường học, sức khoẻ nghề nghiệp, phòng chống tai nạn thương tích và xây dựng cộng đồng an toàn. Phối hợp với Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khoẻ và các cơ quan thông tin đại chúng trên địa bàn tỉnh tổ chức triển khai thực hiện công tác thông tin, truyền thông, giáo dục sức khoẻ về lĩnh vực y tế dự phòng.
Phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá các hoạt động thuộc lĩnh vực phụ trách, Phân tích Kiểm nghiệm đánh giá các sản phẩm cho các hoạt động về an toàn thực phẩm, quy định về an toàn cho các sản phẩm cho các cơ sở sản xuất thực phẩm, chế biến trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Tổng quan cơ sở lý thuyết.1 Lý thuyết về B2B Định nghĩa B2B: Các khách hàng là các tổ chức có nhu cầu mua sắm cho các hoạt động và quá trình sản xuất của tổ chức. Phân loại khách hàng của B2B: - Các doanh nghiệp sản xuất - Các doanh nghiệp thương mại - Các cơ quan, tổ chức Nhà nước - Các tổ chức khác Bản chất của B2B (marketting công nghiệp) là hướng tới khách hàng công nghiệp, mối quan hệ giữ khách hàng công nghiệp. Mô hình hành vi mua thường được dùng để mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quyết định mua giúp cho các nhà marketting có cơ sở phân tích và thiết kế các giải pháp, chính sách thích hợp.
Khách hàng B2B thường có tình huống mua hàng như sau: - Mua lặp lại không thay đổi - Mua lặp lại có thay đổi - Mua mới 2.