Chương I CO SO LY THUYET VE CHAT LUQNG DICH VU VA SU’ HAI LONG KHACH HANG 1. Dịch vụ và chất lượng dịch vụ 1. Dịch vụ Theo Philip Kotler, “Dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thẻ kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thê hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào.” [3, trang 5] Những năm gần đây, khái niệm về dịch vụ trong lĩnh vực quản lý chất lượng được thống nhất theo TCVN ISO 8402:1999, “Dịch vụ là kết quả tạo ra để đáp ứng yêu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung, cấp- khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung cấp.” [1, trang 95] - Theo lý thuyết Marketing, một sản phẩm có thể là hàng hóa vat chất (physical good) hoặc dịch vụ (servive good) hoặc sự kết hợp của cả hai. Có thể phân biệt giữa hàng hóa và dịch vụ căn cứ vào bốn điểm khác biệt sau: [7, trang 8] + Mức độ hữu hình — vô hình (Tangibility- Intangibility): Hàng hóa là mặt hàng hữu hình có thể thấy, sờ chạm vào được gọi là sản phẩm vật chất, sản phẩm hữu hình.
Dịch vụ là một hoạt động, một việc thực hiện bởi một bên này cho bên kia. Dịch vụ không vật chất nhưng vô hình và rất khó xác định chính xác đã mua cái gì + Tính chất sản xuất đồng thời (Simultaneous production): 11 Hàng hóa thường được sản xuất ở nhà máy, sau đó dự trữ ở kho hoặc ở cửa hàng, chờ đợi khách hàng trước khi được bán. Dịch vụ thường được bán trước và sản xuất sau. Hơn nữa, dịch vụ còn được sản xuất và tiêu dùng cùng một lúc.
Người sản xuất hàng hóa ở xa người tiêu dung nhưng người tạo ra dịch vụ thường có mặt cùng với khách hàng. + Tính chất không tồn kho (Perishability): Dịch vụ không thể tồn kho được nên khó cân đối giữa cung và cầu dịch vụ. + Tính chất hay thay đôi (Variability): Chất lượng và kết quả của dịch vụ khác nhau tùy thuộc vào thời điểm, thị trường nơi tạo ra dịch vụ. Thông thường, khi khách hàng mua hàng hóa giao dịch với người bán hàng trong khoảng thời gian ngắn và sự gắn bó giữa khách hàng với doanh nghiệp phụ thuộc vào số lần mua hàng tiếp theo.
Còn đối với dịch vụ, thời gian giao dịch sẽ kéo dài hơn. Trong trường hợp dịch vụ thông tin di động thì sự gắn bó giữa khách hàng với doanh nghiệp sẽ diễn ra trong khoảng thời gian dài lâu Dịch vụ được cung cấp ngay khi khách hàng thực hiện kết nối, nghĩa là không chỉ có nhà cung cấp mà cả khách hàng cùng lúc tham gia tạo ra sự giao dịch. Sự kết nói, chất lượng của dịch vụ thông tin di động thông thường được đánh giá thông qua các tiêu chí như: Sự đón tiếp, hướng dẫn của nhân viên, khả năng kết nói,. Tất cả các yếu tố này đều là yếu tố vô hình, khách hang chỉ có thể cảm nhận được và do đó là những yếu tố vô hình nên xảy ra hiện tượng kết quả và chất lượng dịch vụ khác nhau tùy vào thời điểm, nơi chốn, thiết bị và người tạo ra thiết bị.
Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động cần nắm rõ những đặc tính này dé quản lý quá trình khai thác dịch vụ cho hiệu quả Theo quan điểm Marketing dịch vụ, dịch vụ là một tập hợp các hoạt 12 động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, tạo ra những chuỗi giá trị mang lại lợi ích tổng thể. Do đó dịch vụ thường được phân ra làm hai mục riêng biệt là dịch vụ cốt lõi và dịch vụ bao quanh. [7, trang 12] Dich vụ cốt lõi là dịch vụ cơ bản, dich vu chủ yếu mà doanh nghiệp. cung cấp cho thị trường nhằm thỏa mãn một loại nhu cầu nhất định vì nó mang lại một giá trị cụ thể.
Dịch vụ cốt lõi quyết định bản chất của dịch vụ, do đó nó sẽ quy định dịch vụ loại này chứ không phải dịch vụ loại khác. Dịch vụ cốt lõi gắn liền với hệ thống sản xuất, cung ứng dịch vụ và lõi kỹ thuật của dịch vụ Dịch vụ bao quanh gồm những dịch vụ phụ, thứ sinh, tạo ra những giá trị phụ thêm cho khách hàng, giúp khách hàng cảm nhận tốt hơn vẻ dịch vụ cốt lõi Dịch vụ cốt lõi và dịch vụ bao quanh là những dịch vụ riêng biệt cùng trong một hệ thống đề tạo ra dịch vụ tổng thể. Thông thường các doanh nghiệp. phải bỏ ra một chỉ phí lớn để tạo ra dịch vụ cót lõi (khoảng 70%) nhưng hiệu quả tác động tới khách hàng lại không cao.
Ngược lại, chỉ phí để tạo ra dịch vụ bao quanh khá nhỏ (khoảng 30%) song gây ảnh hưởng rất lớn đến khách hàng Nhu vay, sản phẩm dịch vụ chính là các bộ phận cấu thành của quá trình dịch vụ, chúng có cấu trúc riêng và cung cấp giá trị cho người tiêu dùng. Chất lượng dịch vụ 1.1 Chất lượng Từ trước đến nay có rất nhiều nghiên cứu về chất lượng và các nghiên cứu đó đã đưa ra các khái niệm về chất lượng theo nhiều cách khác nhau - “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” (Philip B.Crosby) [1, trang 29] - “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thé đó khả năng tha mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn” (ISO 13 8402: 1999) [1, trang 29] - Chất lượng phải là một tập hợp các đặc tính của thực thê thể hiện thõa mãn nhu cầu. Do đó, khi đánh giá chất lượng của thực thể ta phải xem xét mọi đặc tính của thực thê có liên quan đến sự thõa mãn nhu cầu cụ thể. [1, trang 33] ~ Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu.
Cho nên, nếu một thực thẻ dù đáp ứng được tiêu chuẩn nhưng không phù hợp với yêu cầu, không được thị trường chấp nhận thì vẫn phải bị coi là không chất lượng ~ Có sự khác nhau giữa chất lượng và cấp chất lượng. “Cấp chất lượng là chủng loại hay thứ hạng của các yêu cầu chất lượng khác nhau đối với sản phẩm, quá trình hay hệ thống có cùng chức năng sử dụng” (ISO 9000: 2000) [1, trang 33] 1. Chất lượng dịch vụ Theo Parasuraman & cộng sự (1988,1991), Parasuraman & ctg (1988), “Chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”. Chất lượng dịch vụ thông tin di động Chất lượng ngành viễn thông di động (Tiêu chuẩn ngành TCN 68- 186:2006) “Chất lượng dịch vụ là kết quả tổng hợp của các chỉ tiêu thể hiện mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ đối với dịch vụ đó”.
Chất lượng dịch vụ bao gồm chỉ tiêu chất lượng kỹ thuật và chỉ tiêu chất lượng phục vụ. Đối với hoạt động thông tin đi động, chất lượng phụ thuộc vào các yếu tố môi trường bên ngoài và môi trường bên trong. Chất lượng được xác định bởi trình độ kỹ thuật, các phương tiện thông tin, trạng thái mạng lưới kết nối các điểm thông tin, kỹ thuật khai thác thiết bị, các tiền bộ khoa học kỹ thuật, các công nghệ truyền thông, việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, su mong 14 đợi giữa kỳ vọng của người tiêu dùng với mức độ hài lòng thỏa mãn các kỳ vọng đó. Chất lượng dịch vụ viễn thông bao gồm hai khía cạnh, đó là chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ.
- Chất lượng dich vu thể hiện ở các tiêu chí như độ truyền tin tức; độ chính xác; tính trung thực của việc truyền đưa tin tức; độ hoạt động ổn định các các phương tiện truyền thông. Cụ thể đó là năng lực phủ sóng của mạng, lưới; khả năng thực hiện cuộc gọi; kết nói thông tin không bị nghẽn mạng, thời gian xử lý sự cố nhanh; cung cấp nhiều loại hình dịch vụ đa dạng; phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng. - Chất lượng phục vụ thể hiện ở các tiêu chí như phổ cập các phương tiện thông tin; mức độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng về dịch vụ thông tin di động; thái độ, phong cách phục vụ của nhân viên; các dịch vụ chăm sóc khách hàng,. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh, hiện đại của khoa học- kỹ thuật- công nghệ, các kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ ngày cảng cao hơn, không chỉ dừng lại ở các khía cạnh vừa được đề cập mà còn được mở rộng ra các khía cạnh khác, làm cho việc đánh giá sự hài lòng cũng như kỳ vọng của khách hàng khó hơn rất nhiều.
Parasuraman & các tác giả cũng xây dựng thang đo Servqual rất nỗi tiếng, đo lường chất lượng dịch vụ thông qua năm thành phần chính đó là sự tin tưởng, sự đáp ứng, sự đảm bảo, sự đồng cảm, phương tiện hữu hình. Tuy vậy, không ai có thể khẳng định mô hình hay thang đo nào là chuẩn xác và đầy đủ, bởi mỗi ngành dịch vụ có những đặc thù riêng của mình. Có thể kết luận rằng các thành phần của chất lượng dịch vụ không thống nhất với nhau ở các ngành và tùy thuộc vào từng thị trường khác nhau. 15 Chính vì vậy, khi thực hiện đề tài này, tác giả phải cân nhắc chọn lựa, kết hợp.
và điều chỉnh nhiều mô hình, thang đo để tìm ra mô hình và thang đo thích hợp nhất với đặc điểm của dịch vụ 3G của MobiFone thì thành phố Đà Nẵng 1. Các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ Parasuraman (năm 1985) đã đưa ra mười nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ là: © Khả năng tiếp cận © Chất lượng thông tin liên lạc + Năng lực chuyên môn + Phong cách phục vụ « Tôn trọng khách hàng © Ding tin cay © Higu qua phuc vu + Tính an toàn + Tính hữu hình ® Am hiểu khách hàng Đến năm 1988, Parasuraman đã tổng hợp thành năm nhân tố cụ thể như sau: « Sự tin cậy: Thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên. «Hiệu quả phục vụ: Thể hiện qua trình độ cuyên môn, tính chuyên nghiệp của nhân viên phục vụ « Sự hữu hình: Thể hiện qua trang phục, ngoại hình của nhân viên và trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ ® Mức độ đáp ứng: Thẻ hiện sự mong muốn và sẵn lòng của nhân viên 16 phục vụ cung cấp dich vụ kịp thời cho khách hàng. s Sự cảm thông: Thể hiện qua sự quan tâm, chăm sóc của nhân viên với khách hàng [1, trang 99] 1.