Chương 1 trình bày các khái niệm về TMĐT, mua sắm trực tuyến, tình hình phát triển của TMĐT và mua sắm trực tuyến tại Việt Nam, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng trực tuyến của khách hàng. - Chƣơng 2: Phân tích thực trạng về các yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định mua hàng của khách hàng trên website Robins. Trong chương 2, tác giả giới thiệu về công ty TNHH Bán lẻ và Giao nhận Recess và website Robins.vn, phân tích thực trạng về việc mua hàng của khách hàng trên website Robins.vn, mô tả khảo sát và phân tích kết quả khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng, cũng như đánh giá thực trạng và ưu, nhược điểm của các yếu tố. - Chƣơng 3: Giải pháp thúc đẩy quyết định mua hàng của khách hàng trên website robins.
Chương 3 trình bày mục tiêu, định hướng về việc gia tăng bán hàng và giải pháp thúc đẩy quyết định mua hàng trên website Robins.vn - Kết luận. - Tài liệu tham khảo. 123doc 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA HÀNG CỦA KHÁCH HÀNG TRÊN WEBSITE ROBINS. Thương mại điện tử.
Khái niệm Theo trang thông tin điện tử hỗ trợ thực hiện giao dịch thương mại điện tử thuộc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại - Bộ Công Thương, có các khái niệm khác nhau về Thương mại điện tử như sau: - Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng internet". - Ủy ban Châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh". - Ủy ban TMĐT của Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á –Thái Bình Dương (APEC): "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số".
Theo Nghị định số 52⁄2013⁄NĐ-CP về Thương mại điện tử Việt Nam: “Hoạt động Thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác.” Nghị định số 52⁄2013⁄NĐ-CP cũng đưa ra khái niệm về website Thương mại điện tử như sau: “Website thương mại điện tử (dưới đây gọi tắt là website) là trang thông tin điện tử được thiết lập để phục vụ một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng. Các hình thức Thương mại điện tử Khi phân chia các hình thức Thương mại điện tử theo chủ thể tham gia và mối quan hệ giữa các chủ thể đó dựa trên nền tảng của các phương tiện điện tử, có 9 hình thức như sau: - C2C (Consumer-to-Consumer): là hình thức giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau. Người dùng có thể đưa thông tin/ rao bán hàng hóa, dịch vụ của mình thông qua các sàn giao dịch Thương mại điện tử, sàn đấu giá trực tuyến hoặc trao đổi qua mạng p2p (Peer-to-Peer). Các ví dụ điển hình của hình thức giao dịch C2C trên thế giới là eBay, Skype.
Ở Việt Nam có Chợ Tốt, 5giay… - B2C (Business-to-Consumer): là hình thức giao dịch giữa doanh nghiệp và khách hàng cá nhân. Thông qua các phương tiện điện tử, doanh nghiệp bán và phân phối hàng hóa, dịch vụ hoặc trao đổi thông tin với khách hàng. Các doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức B2C rất chú trọng đến việc xây dựng website bán hàng hiệu quả: giao diện thân thiện với người dùng, thông tin về sản phẩm, dịch vụ đầy đủ, rõ ràng và thu hút, có chính sách bảo mật thông tin cho khách hàng, sự sẵn sàng của các kênh hỗ trợ, chính sách giao hàng, đổi trả, bảo hành, hình thức thanh toán, chất lượng hàng hóa… - G2C (Government-to-Consumer): hình thức giao dịch/ cung cấp dịch vụ giữa chính phủ và công dân hoặc các cá nhân khác. Theo đó, chính phủ cung cấp các dịch vụ cho các công dân, cá nhân khác thông qua các công nghệ thương mại điện tử.
Ví dụ như các cá nhân có thể đăng ký mã số thuế cá nhân hoặc thông tin về bảo hiểm xã hội của mình qua mạng. - C2B (Consumer-to-Business): là hình thức giao dịch giữa cá nhân và doanh nghiệp. Các cá nhân cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho doanh nghiệp thông qua các phương tiện điện tử. Ví dụ, một chuyên viên về thiết kế đồ họa có thể đưa hồ sơ cá nhân của mình lên trang upwork.com, cùng với các kỹ năng và các sản phẩm đã từng thiết kế đính kèm, với mức giá cụ thể cho tiền công lao động/giờ.
Khi các doanh nghiệp cần tìm 1 người có chuyên môn thiết kế đồ họa, họ sẽ lên trang upwork.com, tìm kiếm theo các tiêu chí cụ thể (như quốc gia, kỹ năng, kinh 123doc 7 nghiệm, mức giá tiền công lao động/giờ). Họ sẽ có được danh sách những cá nhân phù hợp với tiêu chí tìm kiếm đó và bắt đầu lựa chọn. Các website tương tự như upwork. - B2B (Business-to-Business): hình thức giao dịch giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp.
Thông qua các sàn giao dịch thương mại điện từ, các doanh nghiệp có thể giới thiệu, chào bán sản phẩm – dịch vụ, tìm hiểu về đối tác, đặt hàng, thanh toán… Điều này giúp cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận với nhiều đối tác, khách hàng tiềm năng khác một cách tiết kiệm chi phí và hiệu quả hơn. Các ví dụ cho hình thức giao dịch này là alibaba. - G2B (Government-to-Business): Hình thức giao dịch giữa chính phủ và doanh nghiệp. Chính phủ sử dụng các phương tiện điện tử để tổ chức đấu thầu, đấu giá hoặc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến.
Các doanh nghiệp Việt Nam có thể đăng ký kinh doanh trực tuyến thông qua website của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư hoặc khai báo Hải Quan điện tử thông qua phần mềm khai báo Hải Quan. - C2G (Consumer-to-Government): giao dịch giữa người tiêu dùng/ công dân với chính phủ. Theo đó, công dân có thể tương tác với các cơ quan chính phủ ở bất cứ nơi đâu có thể kết nối thông qua các phương tiện điện tử như đóng thuế, hỏi-đáp, tra cứu thông tin. - B2G (Business-to-Government): Mô hình giao dịch theo đó doanh nghiệp sẽ cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho các cơ quan chính phủ.
Trong mô hình giao dịch này, các cơ quan chính phủ là khách hàng, kết nối với các doanh nghiệp bên ngoài thông qua các phương tiện điện tử. Sự phát triển của mô hình này phụ thuộc vào mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của các cơ quan hành chính công, cũng như định hướng tăng cường tính minh bạch trong giao dịch. - G2G (Government-to-Government): gồm các giao dịch, hoạt động giữa các cơ quan chính phủ, hoặc giữa các chính phủ với nhau. Các cơ quan có thể chia sẻ thông tin với nhau một cách nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm chi phí hơn.1: Các hình thức Thƣơng mại điện tử Từ: Nhà cung cấp Người tiêu dùng Doanh nghiệp (Tổ chức Chính phủ hoặc Công dân kinh doanh) Consumer-to- Business-to-Consumer Government-to- Người tiêu dùng hoặc Công dân Consumer (C2C) (B2C) Consumer (G2C) eBay TMĐT tích hợp: • Giao dịch với các cơ Peer-to-Peer Amazon quan chính phủ: Thuế Blogs, cộng đồng Xây dựng quan hệ: BP thu nhập trong nước Giới thiệu sản Xây dựng thương hiệu • Cổng thông tin của phẩm Cơ quan truyền thông các cơ quan chính phủ Mạng xã hội: Trung gian so sánh: • Dịch vụ công MySpace, Bebo Kelkoo, Pricerunner Consumer-to- Business-to-Business Government-to- (Tổ chức kinh doanh) Đến: Ngƣời sử dụng Business (C2B) (B2B) Business (G2B) • Priceline • TMĐT tích hợp: • Dịch vụ công và các • Phản hồi của khách • Xây dựng mối quan hệ giao dịch với cơ quan hàng, cộng đồng hoặc • Cơ quan truyền thông chính phủ: thuế từ các chiến dịch.
• Thị trường B2B: EC21 • Các quy định pháp lý. Consumer-to- Business-to-Government Government-to- Government (C2G) (B2G) Government (G2G) • Đưa thông tin phản • Phản hồi đến các doanh • Dịch vị giữa các Chính phủ hồi đến chính phủ nghiệp nhà nước và các tổ chính phủ với nhau thông qua việc gây chức phi chính phủ. • Trao đổi thông tin. sức ép bằng các nhóm hoặc những trang cá nhân.
Tình hình phát triển của Thương mại điện tử Việt Nam Năm 2003, ban Công Nghệ Thông Tin và Thương mại điện tử thuộc bộ Thương Mại công bố bản báo cáo đầu tiên về tình hình ứng dụng TMĐT của Việt Nam, phản ảnh thực trạng tham gia TMĐT của các doanh nghiệp Việt Nam tại thời điểm 2003: nguồn nhân lực cho TMĐT còn thiếu và yếu, các doanh nghiệp tham gia TMĐT một cách tự phát nên hiệu quả chưa cao, chưa có sự chỉ đạo chính thức từ phía chính phủ, thiếu hạ tầng CNTT và viễn thông phục vụ cho sự phát triển của TMĐT, trong khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia và ứng dụng TMĐT vào kinh doanh. Cuối năm 2004, tổng số website của các doanh nghiệp Việt Nam tăng mạnh so với năm 2003 (đạt 17. Hình thức giao dịch B2B bắt đầu phát triển mạnh hơn, theo báo cáo TMĐT Việt Nam 2004 của bộ Thương Mại, có 73,91% được hỏi cho biết đối tượng họ hướng tới khi thiết lập website là các công ty và tổ chức. Các trường đại học và doanh nghiệp bắt đầu hình thành nguồn nhân lực cho TMĐT thông các các chương trình đào tạo.
Theo báo cáo của Bộ Thương Mại, “Năm 2005 là năm cuối cùng của giai đoạn Thương mại điện tử hình thành và được pháp luật chính thức thừa nhận tại Việt Nam”. TMĐT năm 2005 có 6 điểm nổi bật: (1) Khung chính sách và pháp lý cho TMĐT đã hình thành, điển hình là kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2006 – 2010 (Quyết định số 222/2005/QĐ-TTG, ban hành ngày ngày 15 tháng 09 năm 2005), Luật Giao dịch điện tử, Luật Thương mại và Bộ Luật Dân sự. (3) Chính thức hình thành nguồn nhân lực cho TMĐT. Các trường đại học chính quy đã bắt đầu đưa môn TMĐT vào chương trình giảng dạy.
(4) Một số hình thức TMĐT mới xuất hiện và bắt đầu phát triển nhanh như nghe nhạc trực tuyến, tải nhạc, trò chơi trực tuyến. (5) Các loại hình TMĐT phát triển chưa cân đối.