CHƯƠNG I Như vậy, chương một đã giới thiệu tổng quát nghiên cứu này với việc nêu lên tình hình thực tế về công nghệ 3G của mạng Vinaphone tại Việt Nam cùng với những mục tiêu và ý nghĩa của đề tài. Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu cùng bố cục của luận văn cũng được trình bày, thể hiện trình tự cũng như nội dung cơ bản của đề tài này. Tiếp theo là phần nội dung của chương hai với cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề nghị. 7 CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ 3G Để hiểu thế nào là công nghệ 3G, chúng ta hãy xét qua đôi nét về lịch sử phát triển của các hệ thống điện thoại di động.
Mặc dù các hệ thống thông tin di động thử nghiệm đầu tiên đựơc sử dụng vào những năm 1930-1940 trong trong các sở cảnh sát Hoa Kỳ nhưng các hệ thống điện thoại di động thương mại thực sự chỉ ra đời vào khoảng cuối những năm 1970 đầu những năm 1980. Các hệ thống điện thoại thế hệ đầu sử dụng công nghệ tương tự và người ta gọi các hệ thống điện thoại kể trên là các hệ thống 1G. Công nghệ 1G có dung lượng mạng thấp và vì sử dụng công nghệ tương tự nên xác suất rớt cuộc gọi cao, chuyển giao kém (handover), chất lượng cuộc gọi và bảo mật rất kém… Tại châu Âu, mỗi nước phát triển một hệ thống thông tin di động trong lãnh thổ của riêng mình. Người đăng ký sử dụng dịch vụ ở một nước, khi đi sang các nước khác thường không thể sử dụng các dịch vụ đã đăng ký ở nhà (không thể roaming).
Năm 1983, một tiêu chuẩn kỹ thuật số - gọi là Hệ thống thông tin di động toàn cầu – GSM, hoạt động ở các giải tần tiêu chuẩn, được đưa ra và đề xuất sử dụng. Cho đến năm 1993, GSM đã được hầu hết các nhà khai thác mạng ở châu Âu nâng cấp và triển khai sử dụng. Khi số lượng các thuê bao trong mạng tăng lên, người ta thấy cần phải có biện pháp nâng cao dung lượng của mạng, chất lượng các cuộc đàm thoại cũng như cung cấp thêm một số dịch vụ bổ sung cho mạng. Để giải quyết vấn đề này người ta đã nghĩ đến việc số hóa các hệ thống điện thoại di động, và điều này dẫn tới sự ra đời của các hệ thống điện thoại di động thế hệ thứ hai.
Công nghệ 2G có dung lượng mạng cao và vì sử dụng kỹ thuật chuyển mạch số nên có tính bảo mật cao, chất lượng thoại tốt và có nhiều ứng dụng dịch vụ hơn như truyền số liệu, fax, nhắn tin SMS,… 8 Tuy nhiên, khi tiến hành nâng cấp lên kỹ thuật số, các nhà khai thác mạng có ba lựa chọn: sử dụng công nghệ TDMA, CDMA hoặc GSM (cũng là một dạng của TDMA). Mỗi tiêu chuẩn đều được những người đề xuất hỗ trợ mạnh mẽ dẫn tới việc cả ba công nghệ đều được sử dụng cho các nhà khai thác. Kết quả là tạo ra các hệ thống mạng thông tin di động riêng biệt và và không tương thích lẫn nhau trên toàn khu vực. Trong một nỗ lực nhằm tiêu chuẩn hóa các hệ thống thông tin di động kỹ thuật số trong tương lai và tạo ra khả năng kết nối toàn cầu với chỉ một thiết bị, năm 1999, liên minh viễn thông quốc tế ITU đã đưa ra một tiêu chuẩn duy nhất cho các mạng di động tương lai gọi là IMT2000.
Tiêu chuẩn Thông tin di động quốc tế - IMT - 2000 sau này được gọi là 3G, đưa ra các yêu cầu cho các mạng di động thế hệ kế tiếp bao gồm: Tăng dung lượng hệ thống Tương thích ngược với các hệ thống thông tin di động trước đây (gọi là 2G). Hỗ trợ đa phương tiện. Dịch vụ dữ liệu gói tốc độ cao, với các tiêu chuẩn về tốc độ truyền dữ liệu được xác định: 2Mbps khi đứng yên hay ở trong khu vực nội thị. 384Kbps ở khu vực ngoại vi.
144Kbps ở khu vực nông thôn. Với thông tin vệ tinh - khả năng phủ sóng rộng - tốc độ truyền số liệu có khả năng thay đổi. ITU mong muốn các nhà khai thác mạng sẽ tạo thành một hệ thống cơ sở hạ tầng mạng và vô tuyến thống nhất, có khả năng cung cấp dịch vụ đa dạng và rộng khắp trên toàn cầu. 9 Theo thời gian, khái niệm IMT2000 từ một tiêu chuẩn trở thành một tập các tiêu chuẩn thỏa mãn các yêu cầu với nhiều công nghệ khác nhau.
Hai tiêu chuẩn 3G được chấp nhận rộng rãi nhất theo đề nghị của ITU là CDMA 2000 và WCDMA đều dựa trên nền tảng công nghệ CDMA. Mạng 3G cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh. 3G cung cấp cả hai hệ thống là chuyển mạch gói và chuyển mạch kênh. Điểm mạnh của công nghệ này so với công nghệ 2G là cho phép truyền, nhận các dữ liệu, âm thanh, hình ảnh chất lượng cao cho cả thuê bao cố định và thuê bao đang di chuyển ở các tốc độ khác nhau.
Với công nghệ 3G, các nhà cung cấp có thể mang đến cho khách hàng các dịch vụ đa phương tiện như: âm nhạc chất lượng cao; hình ảnh video chất lượng và truyền hình số, email, các dịch vụ định vị toàn cầu (GPS). Công nghệ 4G được hiểu là chuẩn tương lai của các thiết bị không dây, cho phép truyền tải dữ liệu với tốc độ tối đa trong điều kiện lý tưởng từ 1 cho đến 1.5 Gbps, cho phép người sử dụng có thể tải và truyền lên hình ảnh động chất lượng cao. Tốc độ 4G vượt xa so với 3G. Tốc độ tối đa của 3G hiện tại là 21Mbps.
Trong khi đó, yêu cầu của công nghệ 4G, tốc độ phải đạt tới 100Mbps đối với người dùng di chuyển và 1Gbps đối với người dùng cố định. Điểm thay đổi khác biệt trong công nghệ 4G so với công nghệ 3G là 4G chỉ sử dụng chuyển mạch gói mà không kết hợp giữa chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói như công nghệ 3G. Chuyển mạch kênh là công nghệ cũ đã được sử dụng trong các hệ thống điện thoại một thời gian dài. Nhược điểm của công nghệ này là việc lưu trữ tin trong suốt thời gian kết nối.
10 Chuyển mạch gói là công nghệ sử dụng phổ biến trong mạng máy tính. Với chuyển mạch gói các gói tin chỉ được sử dụng khi mà thông tin được gửi đi. Hiệu quả của việc sử dụng chuyển mạch gói cho phép các công ty sản xuất di động giảm thiểu tối đa băng thông đàm thoại. Công nghệ 4G không còn sử dụng kỹ thuật chuyển mạch kênh với cả các cuộc gọi thoại qua mạng và các cuộc gọi truyền hình.
Tất cả các thông tin truyền đi được đóng gói để đạt được tốc độ cao. Nhưng hiện tại, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được tốc độ thật sự mà chuẩn 4G đưa ra nên 4G sẽ là công nghệ của tương lai. Chính vì vậy công nghệ 3G là công nghệ phổ biến và đã được khẳng định. Tại Việt Nam,công nghệ 3G được chính thức cung cấp từ tháng 10/2010.
Tuy nhiên, sau ba năm triển khai, chỉ có dưới 5% thuê bao sử dụng dịch vụ 3G một cách thường xuyên. Đây là tình trạng chung của các nhóm nước khởi đầu dịch vụ 3G. Trong xã hội ngày nay khi mà con người có nhu cầu hội nhập và di chuyển ngày càng cao thì việc chấp nhận công nghệ 3G (băng rộng, tốc độ cao) thay thế cho các công nghệ 1G và 2G là một xu thế tất yếu để thỏa mãn nhu cầu chia sẻ dữ liệu thông tin và đa phương tiện tốc độ cao. Mặc dù các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận công nghệ 3G đã được quan tâm nghiên cứu tại một số nước trong khu vực, nhưng còn mới mẻ tại Việt nam, đặc biệt là chưa đề cập đến các yếu tố liên quan đến văn hóa và xã hội đặc trưng cho mỗi quốc gia.
Do đó, nghiên cứu sự chấp nhận công nghệ 3G tại thị trường Việt nam có ý nghĩa vô cùng to lớn vì nó cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị tiếp thị, đặc biệt trong giai đoạn khởi đầu của Internet di động băng thông rộng như hiện nay được kỳ vọng sẽ tạo ra một thị trường mới với nguồn doanh thu mới bù đắp cho tài nguyên các dịch vụ cơ bản như thoại, SMS, WAP,.đã khai thác đến mức cạn kiệt với mức cước không thể giảm hơn nữa.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong những năm 70 của thế kỷ trước, để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người thì việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất và kinh doanh là điều tất yếu, công nghệ kỹ thuật cao dần được ứng dụng rộng rãi trong xã hội nhưng không phải việc áp dụng công nghệ mới nào cũng mang lại thành công. Sự thất bại ngày càng nhiều của việc áp dụng công nghệ mới đã hình thành nên một lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu là dự báo hành vi sử dụng công nghệ của khách hàng (Chuttur , 2009). Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu về lĩnh vực này.1 Lý thuyết hành động hợp lý - TRA Được phát triển bởi Fishbein và Ajzen (1975) như Hình 2.1, lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) gần như là xuất phát điểm của các nghiên cứu về hành vi sử dụng công nghệ của khách hàng. Lý thuyết này dựa trên giả định rằng hành vi của cá nhân được kiểm soát bởi ý chí và các cá nhân sử dụng các thông tin có sẵn của hệ thống làm cơ sở cho họ hành động, cá nhân xem xét các tác động của hành động trước khi quyết định thực hiện hay không thực hiện một hành vi (Kholoud, 2009).
“Ý định sử dụng” (Behavioral Intention-BI) là những ý định mà cá nhân ưu tiên thực hiện sẽ dẫn đến hành vi thực tế (Actual Behavior). Yếu tố quyết định quan trọng nhất đến hành vi của một cá nhân là “Ý định sử dụng”. Ý định của một cá nhân để thực hiện hành vi là một sự kết hợp của: Thái độ hướng đến hành vi (Attittude Toward Behavior - ATB). Các chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN).