phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng số liệu, sơ đồ, biểu đồ và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Chƣơng Dƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Chƣơng Dƣơng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI QUÁT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Khái niệm huy động vốn tại ngân hàng thƣơng mại 1. Vị trí của huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh tiền tệ, với nghiệp vụ thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ liên quan đến lĩnh vực tài chính ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Các nghiệp vụ của NHTM có thể đƣợc chia làm 3 nhóm cơ bản: (1) nghiệp vụ nguồn vốn tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng; (2) nghiệp vụ sử dụng vốn chủ yếu thông qua cấp tín dụng và đầu tƣ để cung cấp nguồn vốn cho các bộ phận đang thiếu vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng của xã hội; (3) nghiệp vụ trung gian cung cấp các dịch vụ giúp hỗ trợ hoạt động khai thác và sử dụng vốn đồng thời mang lại thu nhập cho ngân hàng bằng các khoản phí, hoa hồng… Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng mang tính hệ thống và chịu ảnh hƣởng dây chuyền lẫn nhau, trong đó, nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề, đảm bảo duy trì hoạt động kinh doanh của ngân hàng, có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng nhƣ đối với xã hội. NHTM hoạt động theo nguyên tắc đi vay (thông qua hoạt động huy động vốn từ các thành phần kinh tế) để cho vay (thông qua hoạt động sử dụng vốn). Do đó, giữa hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Để có vốn phục vụ cho các hoạt động sử dụng vốn (ngân 8 quỹ, cấp tín dụng, đầu tƣ tài chính), ngân hàng phải thực hiện công tác huy động vốn.
Nếu lƣợng vốn huy động nhiều thì ngân hàng có thể tăng cƣờng các hoạt động sử dụng vốn thông qua việc mở rộng các khoản cho vay, đầu tƣ. Trong trƣờng hợp ngân hàng đã áp dụng đầy đủ các biện pháp nhƣ thay đổi lãi suất, mở rộng dịch vụ nhƣng không thể tăng đƣợc khối lƣợng vốn huy động thì ngân hàng phải thực hiện chính sách tín dụng có lựa chọn, không đáp ứng đƣợc đầy đủ nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, số lƣợng vốn huy động, cơ cấu, loại hình, thời gian huy động lại phụ thuộc vào phƣơng hƣớng kinh doanh, tức là phụ thuộc vào chiến lƣợc tín dụng của ngân hàng. Khi ngân hàng muốn mở rộng doanh số cho vay nhằm chiếm lĩnh những thị trƣờng lớn hơn, ngân hàng cần phải tăng cƣờng các hoạt động huy động vốn nhằm huy động đƣợc số vốn cần thiết.
Trong trƣờng hợp doanh số cho vay của ngân hàng không tăng, để tăng đƣợc lợi nhuận, ngân hàng cần thay đổi cơ cấu vốn huy động, giảm bớt loại vốn huy động có chi phí huy động cao và tăng cƣờng loại vốn huy động có chi phí thấp. Khi ngân hàng muốn thu hẹp hoạt động tín dụng thì bắt buộc phải có sự thay đổi tƣơng ứng trong hoạt động huy động vốn nhằm giảm bớt lƣợng tiền không cần thiết. Nhờ đó tránh đƣợc những chi phí mà ngân hàng phải chịu nếu không có sự đồng bộ giữa huy động vốn và sử dụng vốn. Khi các nghiệp vụ huy động vốn và sử dụng vốn đƣợc phát triển một cách hài hòa và nhịp nhàng với nhau sẽ thúc đẩy nhu cầu của khách hàng về sử dụng các dịch vụ trung gian.
Các dịch vụ này không chỉ hỗ trợ tích cực cho nghiệp vụ huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng mà nó còn hỗ trợ tích cực cho việc lƣu thông tiền tệ trong công việc kinh doanh của khách hàng. Nhƣ vậy, mặc dù hoạt động huy động vốn không phải là hoạt động trực tiếp tạo ra doanh thu của ngân hàng nhƣng nó đóng vai trò quan trọng quyết định lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Công tác huy động vốn 9 đạt hiệu quả tối ƣu giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí hoạt động và sử dụng vốn hợp lý, mang lại lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh tốt. Do đó, trong công tác quản lý hoạt động ngân hàng, phải kết hợp tối ƣu công tác huy động vốn với công tác sử dụng vốn nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Khái niệm huy động vốn của ngân hàng thương mại Đối với bất kì một doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh đƣợc thì điều kiện cần thiết trƣớc tiên là cần phải có vốn, bởi vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng đối với ngân hàng, do đặc thù kinh doanh riêng có, ngoài vốn điều lệ khi thành lập và tích lũy trong quá trình kinh doanh thì đại bộ phận vốn của ngân hàng là lƣợng thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng mà ngƣời chủ sở hữu của chúng gửi vào trong ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau. Nói cách khác, họ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn tạm thời cho ngân hàng để nhận lại một khoản thu nhập. Nguồn vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập hoặc huy động đƣợc dùng để cho vay, đầu tƣ hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Nguồn vốn chi phối sự hoạt động của các ngân hàng, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Với đặc thù hoạt động kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ liên quan đến tiền tệ thì ngân hàng sẽ sử dụng nguồn vốn này để cung cấp tín dụng, đầu tƣ và cung cấp các dịch vụ khác cho những ngƣời có nhu cầu nhằm thu đƣợc lợi nhuận lớn hơn. Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó có ảnh hƣởng quyết định đến việc thực hiện các chức năng của NHTM, sự tồn tại và phát triển kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn của NHTM rất đa dạng, phong phú, bao gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay, vốn khác.
Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng và đều có những tác 10 động nhất định đến hoạt động kinh doanh của NHTM, song bộ phận vốn huy động vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, là công cụ chính và giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động đƣợc từ các TCKT và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và đƣợc dùng làm vốn để kinh doanh. Vốn huy động của NHTM mang những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, quy mô của nguồn vốn huy động rất lớn so với nguồn vốn khác. Thông thƣờng, vốn huy động chiếm từ 70 – 80% tổng nguồn vốn của mỗi ngân hàng.
Thứ hai, bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn trƣớc hạn. Vì vậy, ngân hàng không đƣợc phép sử dụng hết số vốn đó vào hoạt động kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán. Thứ ba, đây là nguồn vốn phải dự trữ bắt buộc nên chi phí cho nguồn vốn này thƣờng cao hơn so với các nguồn vốn khác. Ngoài ra, các ngân hàng phải mua bảo hiểm tiền gửi cũng làm cho chi phí huy động cao hơn.
Thứ tƣ, nguồn vốn này thƣờng nhạy cảm với những biến động của nền kinh tế nhƣ: Lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ tiêu dùng và nhiều nhân tố khác. Thứ năm, sự thay đổi nguồn vốn huy động ngắn hạn sẽ làm thay đổi cầu thanh khoản của ngân hàng. Huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên 11 nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Hoạt động huy động vốn của các NHTM là hoạt động mà trong đó các ngân hàng tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhằm đảm bảo sự vận hành bình thƣờng, hiệu quả của bản thân nó theo đúng các quy định pháp luật.
Vai trò của huy động vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM Cũng nhƣ các ngành nghề kinh doanh khác, để cho hoạt động kinh doanh đƣợc diễn ra thƣờng xuyên và liên tục thì cần phải có nguyên liệu sản xuất. NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ trong đó tiền là nguyên liệu chính trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động tìm kiếm nguyên liệu sản xuất của ngân hàng là hoạt động huy động vốn, nên tình hình hoạt động của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào tình hình huy động vốn của chính ngân hàng đó. Để hiểu đƣợc vai trò của công tác huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM, trƣớc hết, chúng ta phải hiểu đƣợc vốn huy động có vai trò nhƣ thế nào đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Thứ nhất, vốn huy động có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô hoạt động của các ngân hàng: Nguồn vốn khả dụng của ngân hàng có ảnh hƣởng trực tiếp đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, hoạt động bảo lãnh hay trong hoạt động thanh toán. Thông thƣờng so với các ngân hàng nhỏ thì các ngân hàng lớn có các khoản mục về đầu tƣ, cho vay đa dạng hơn, phạm vi và khối lƣợng tín dụng cũng lớn hơn. Với lƣợng vốn lớn, ngân hàng có thể mở rộng quy mô khối lƣợng tín dụng, có thể tài trợ cho các dự án lớn (về qui mô tín dụng, về thời hạn tín dụng…) và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ.