mở đầu giống nhau. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 1. Khái quát về tỉnh Đồng Tháp 1.Tên gọi hành chính Nguyễn Hữu Hiếu (2013) đã cho rằng: Về tên gọi hành chính, chữ “Tháp” xuất hiện trước. Ban đầu “tháp” là danh từ chung được dùng với nghĩa là ngôi tháp, không viết hoa.
Theo truyền thuyết, xưa kia trên địa bàn tỉnh, có một vùng đất rộng nhiều gò, giồng, trong đó người ta phát hiện có một cái gò có ngôi tháp và được cho rằng đây là ngôi tháp thứ mười của Thủy Chân Lạp dựng lên để thờ thần Bà-la-môn. Đến năm 1958, chính quyền Ngô Đình Diệm cho xây lại một cái Tháp 10 tầng theo cấu trúc giống như chùa Thiên Mụ (xem hình 1.) để làm viễn vọng đài, gây nhiều bất lợi nên sau đó bị bộ đội ta đánh sập. Người dân quen gọi nơi đây là gò Tháp Mười, gò Tháp hoặc vùng Tháp Mười. Xoay quanh chuyện cái tháp này đã có rất nhiều giả thuyết, có biết bao nhà khoa học tìm tòi nhưng xem ra chưa có cách lý giải nào hoàn toàn có cơ sở thuyết phục cả.
Không chỉ vậy, Gò Tháp được nhiều nhà khoa học chú ý đến bởi nơi đây mang đậm dấu ấn của nền văn minh cổ xưa, là kho báu chứa đựng nhiều di tích khảo cổ vô giá về kiến trúc, nghệ thuật của nền văn hóa Óc Eo cách đây hơn 1. Có lẽ vì những lý do trên mà thành tố “Tháp” dần được dùng ở phạm vi rộng, làm thành tố để định danh cho toàn địa diện của một vũng đất trũng quanh nó, rồi làm một thành tố trong tên của tỉnh nhà- nơi có ngọn tháp huyền thoại ấy. Ngày nay người ta cũng quen dùng từ “đất Tháp” để gọi tên cho tỉnh Đồng Tháp. Chữ “Đồng” xuất hiện từ thời kháng Pháp.
Lúc bấy giờ, Tháp Mười trở thành nơi “Ông Kiều xây lũy đánh Tây rửa thù”. Anh hùng Võ Duy Dương đã chọn nơi đây làm căn cứ kháng chiến, từ đó tên gọi Tháp Mười xuất hiện nhiều trong các văn bản hành chính và được đông đảo nhân dân biết đến. Đây cũng là một chiến trường ác liệt mà địch luôn mở các trận càn quét, ruồng bố. Từ trên tầng cao của tháp, ta có thể quan sát được cả một vùng đất trũng, rộng tiếp giáp giữa ba tỉnh Đồng Tháp, 11 Long An và Tiền Giang.
Khi đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, Pháp đã đặt tên cho cả vùng đất trũng này là “Cánh đồng ngập nước đầy cỏ”, “Đồng Cỏ Lác” hay “Đồng Cỏ Bàng”. Như vậy chữ “Đồng” ban đầu cũng là danh từ chung chỉ cánh đồng. Qua thời gian, chữ đồng được thêm vào địa danh và viết hoa thành vùng Đồng Tháp Mười. Vì thế, tên gọi Đồng Tháp Mười gắn với những dấu vết của nền văn hóa Óc Eo và các cuộc đấu tranh chống xâm lược.
Sau này, có người cho rằng đó là tên gọi dựa vào đặc điểm của đối tượng, có liên quan đến đặc điểm địa hình. “Đồng: chỉ vùng đất rộng lớn, tương đối bằng phẳng, được khai phá hoặc chưa” (Phẩm Long An, 2013). Có thể thấy, địa danh hành chính Đồng Tháp có liên quan đến các yếu tố trên nên đôi khi cả ba cách gọi Đồng Tháp Mười, Đồng Tháp, hay Tháp Mười đều khiến người ta nghĩ ngay đến tỉnh Đồng Tháp. Cũng có ý kiến cho rằng: “Đồng Tháp là cách gọi rút gọn của Đồng Tháp Mười […].
Vậy nên nói Đồng Tháp là nói Đồng Tháp Mười” (Lê Trí Viễn, 1986a). Ngày nay đã phân biệt rõ, cụm từ “Đồng Tháp Mười” dùng để chỉ một vùng đất trũng, gồm một phần thuộc tỉnh Đồng Tháp, một phần thuộc tỉnh Long An và một phần thuộc tỉnh Tiền Giang. “Đồng Tháp” là tên của một tỉnh và “Tháp Mười” là tên của một huyện trong tỉnh. Tên gọi hành chính Đồng Tháp được chính thức công nhận từ sau Quyết định ngày 3/ 7/1976 của Hội đồng Chánh phủ, hợp nhứt hai tỉnh Kiến Phong và Sa Đéc thành tỉnh Đồng Tháp và cho đến nay.
Như vậy, hai chữ Đồng Tháp được hình thành trong quá trình vận động biến đổi của lịch sử và gắn liền với những nét riêng của thiên nhiên miền quê này. Địa danh ấy đã trở nên quen thuộc trong tâm hồn người lao động, đi vào những điệu hò câu hát dân gian một cách tự nhiên, chân tình mộc mạc và đằm thắm yêu thương. Địa lí hành chính Đồng Tháp là một tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, diện tích 3275,8 km² (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, 2013). Phía bắc giáp Prey- veng (Cam- pu-chia) và tỉnh Long An với đường biên giới dài 48,7 km, theo sông Tiền và Sông Hậu ra biển Đông, phía nam giáp Vĩnh Long và Cần Thơ, phía tây giáp An Giang và Cần Thơ, phía đông giáp Long An và Tiền Giang, có một vùng trũng giáp với vùng trũng của hai tỉnh Long An và Tiền Giang nay là vùng Đồng Tháp Mười.
12 Trước khi Nguyễn Ánh lên ngôi (năm 1802), Gia Định phủ gồm bốn dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn, Trấn Định, Long Hồ và trấn Hà Tiên. Địa giới tỉnh Đồng Tháp thuộc một phần của dinh Trấn Định (phần phía bắc sông Tiền) và dinh Long Hồ (phần phía nam sông Tiền). Dưới triều Nguyễn (1802- 1862), Đồng Tháp là phần đất thuộc huyện Kiến Phong của tỉnh Định Tường (nay thuộc các huyện ở bắc sông Tiền) và huyện Vĩnh An (của tỉnh An Giang, nay thuộc các huyện nam sông Tiền). Thời Pháp thuộc (từ năm 1900- 1954), Đồng Tháp thuộc tỉnh Sa Đéc, có địa giới gần giống ngày ngay.
Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa (1956- 1975), vùng này là hai tỉnh Sa Đéc và Kiến Phong. Từ năm 1976, hai tỉnh này hợp nhất mang tên tỉnh Đồng Tháp. Các đơn vị hành chính của tỉnh Đồng Tháp đã qua nhiều lần thay đổi. Tính đến năm 2013, sau khi Chính phủ ra quyết định thành lập thành phố Sa Đéc (14/10/2013).
Hiện nay (tính đến tháng 10/ 2018), tỉnh Đồng Tháp có 12 đơn vị hành chính: thành phố Cao Lãnh, thành phố Sa Đéc, thị xã Hồng Ngự và 9 huyện (xem bảng 1. Các đơn vị hành chính của tỉnh Đồng Tháp 1 Thành phố Cao Lãnh 2 Thành phố Sa Đéc 3 Thị xã Hồng Ngự 4 Huyện Tân Hồng 5 Huyện Hồng Ngự 6 Huyện Tam Nông 7 Huyện Thanh Bình 8 Huyện Cao Lãnh 9 Huyện Lấp Vò 10 Huyện Tháp Mười 11 Huyện Lai Vung 12 Huyện Châu Thành 13 Nhờ sự tiếp giáp với nhiều tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long như: Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Long An và Tiền Giang đã tạo điều kiện cho Đồng Tháp có sự giao lưu, tác động qua lại và mang những nét chung trong khu vực. Với ca dao Đồng Tháp, điều đó sẽ phần nào giúp chúng ta lý giải vì sao bên cạnh những nét đặc trưng riêng, ta còn tìm thấy những nét tương đồng. Địa lý tự nhiên Điều kiện tự nhiên của tỉnh Đồng Tháp thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo.
Có tài liệu ghi chép rằng: “…có những khoảnh ruộng không phải cày, người ta chỉ bứt cỏ đi rồi trồng lúa. Trồng một hộc lúa giống thì thu được ba trăm hộc lúa mùa. Như vậy chúng ta cũng đủ biết ruộng ở đây thật là phì nhiêu” (Lê Qúi Đôn, 1977). Địa hình của tỉnh Đồng Tháp khá bằng phẳng, nằm ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long (tên quốc tế là Mê Kông).
Sông Cửu Long đi qua nước Việt Nam chia làm hai nhánh sông Tiền và sông Hậu rồi đổ ra biển bằng chín cửa. Sông Cửu Long mang phù sa bồi đắp ruộng vườn, là huyết mạch giao thông của cả vùng Nam Bộ. Đồng Tháp là tỉnh duy nhất nằm hai bên bờ bắc và nam sông Tiền, trải rộng đến sông Hậu. Dọc hai bên bờ sông Tiền là hệ thống kinh rạch, sông, ngòi chằng chịt.
Ngoài ra còn có hai nhánh sông Sở Hạ và sông Sở Thượng bắt nguồn từ Campuchia đổ ra sông Tiền ở Hồng Ngự. Hai bên bờ sông là đồng bằng, vào sâu bên trong vùng đất trũng như lòng chảo, ngập nước quanh năm. Dưới thời kỳ Nam tiến, bên cạnh sự ưu ái của thiên nhiên thì vùng đầm lầy hoang dại nơi đây là một thử thách rất lớn cho việc khẩn hoang và thông thương bằng đường bộ. Phương tiện giao thông chủ yếu là bè, xuồng, ghe, tắc rán.
Khí hậu Đồng Tháp nóng ấm quanh năm, thuộc vùng nhiệt đới, nhiệt độ trung bình 27,4ºC với hai mùa rõ rệt: mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau). Khoảng tháng 5, lượng mưa và nước ở thượng nguồn sông Cửu Long đổ xuống, tràn vào nội đồng. Khi lũ tràn về, các vùng trũng bị ngập sâu. Mùa lũ mang đến cho con người nhiều lợi ích chứ không hẳn là tai họa.
Thực vật nơi đây rất đa dạng. Ở vùng đất cao có nhiều bằng lăng, gõ, dầu, sao, chai… Ven bờ sông Tiền, sông Hậu và các sông rạch ta dễ dàng tìm thấy nhiều loài cây thích nghi với mùa nước nổi và thủy triều như: tre, sao, dầu, cà na, gáo, cà 14 na, bần, bình bát, dừa, bằng lăng nước, lúa ma, môn, lùng, sậy…Đi vào bên trong là những cánh đồng, thường bị ngập định kỳ hàng năm, chủ yếu là rừng tràm bạt ngàn, cánh đồng năn, đưng, đồng cỏ, các trảng lau sậy, những đám đủng đỉnh, cà na…Vào sâu trong nội đồng là vùng bưng trũng ngập nước quanh năm, có các loài cây như năn, tràm, lúa ma, sen, súng, rong, bèo, tảo…Trong công cuộc khai hoang phục hóa, người dân Đồng Tháp đã tận dụng các loài cây có sẵn trong tự nhiên để phục vụ cho đời sống như làm nhà, đóng xuồng ghe, làm lương thực, thực phẩm, chất đốt, trang phục, vũ khí. Việc ăn, ở, mặc, đi lại thích nghi với điều kiện thiên nhiên đồng bằng sông nước, mang nét đặc trưng của văn hóa ẩm thực miền sông nước. Những cánh đồng lúa ma đã góp phần không thiếu cho sự sống con người.
Những cánh đồng cỏ hoang đã từng là nơi che giấu cán bộ, là chiến trường oanh liệt một thời. Nhu cầu của cuộc sống ngày càng phong phú và đa dạng, con người không thể mãi phụ thuộc vào thiên nhiên mà phải cải tạo đất và trồng trọt. Dần dần các loại cây ăn quả, hoa màu, lương thực đã được trồng và vang tiếng như: quýt Lai Vung, xoài Cao Lãnh, mận Hòa An, nhãn Châu Thành… Các loài cỏ dại, không có ích cho vụ mùa như năn, lác, sậy, cỏ tranh, cỏ gấu, cỏ hôi, cỏ u du, cỏ lồng vực, cỏ mần trầu, cỏ lông công, cỏ đuôi phụng, gạc nai, bèo…dần bị tiêu diệt. Cây sen vẫn tồn tại và mang lại giá trị vật chất lẫn tinh thần cho con người.