Chương 1: Cơ sở lý luận về Bảo hiểm xã hội và công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc Chương 2: Thực trạng công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tai bảo hiểm xã hội huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam giai đoạn 2017-2021. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam Em xin trân trọng cảm ơn giảng viên hướng dẫn TS. Phan Anh Tuấn và Ban Giám đốc cùng các phòng chuyên môn nghiệp vụ tại cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập. Trong quá trình thực tập, mặc dù đã cố gắng nhưng chắc chắn không thê tránh khỏi những khiếm khuyết, sai sót rất mong được các thầy, cô giáo chỉ bảo, hướng dẫn, dé em hoàn thiện hơn về kiên thức va nâng cao von hiéu biệt của bản thân minh.
Sinh viên Nguyễn Thị Khánh Linh 4 CHUONG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VE BHXH VÀ CÔNG TÁC QUAN LÝ THU BHXH BAT BUỘC 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BHXH 1.1 Khái nệm BHXH Có nhiều cách định nghĩa về bảo hiểm xã hội, có thé kế đến như: - Theo Hội đồng biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế, bù đắp một phần thu nhập cho NLD khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bao đảm ôn định đời sống cho NLD và gia đình họ, đồng thời góp phan bảo đảm an sinh xã hội. - Theo góc độ tai chính, BHXH là quá trình tao lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những NLD, có sự bảo trợ của nhà nước, dé san sẻ rủi ro, đảm bao thu nhập cho họ và gia đình trong những trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật. - Theo góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những người lao động xuất phát từ lợi ích chung của họ. - Theo góc độ xã hội, BHXH được hiểu như là một chính sách xã hội nhằm dam bảo đời sống cho người lao động khi thu nhập của họ bị giảm hay mat.
Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lượng lao động xã hội, lực lượng sản xuất, tái sản xuất sức lao động; tăng năng suất lao động ôn định trật tự xã hội. - Theo quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLD khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuôi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Tuy nhiên về bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau: - BHXH là sản phẩm tat yếu của nền kinh tế hàng hóa: khi nền kinh tế của một quốc gia phát triển thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và lớn mạnh của BHXH phản anh sự phát triển của nền kinh tế; một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh.
Kinh tế ngày một phát triển, hệ thống BHXH mở rộng về quy mô, đa dạng các sản phâm bảo hiểm; các chế độ BHXH ngày một mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú. - BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập. Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết. Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện cả theo chiều dọc và chiều ngang.
Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thân người lao động theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại thu nhập của quá trình làm việc và quá trình không làm việc). Phân phối theo chiều đọc là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh cho người ốm đau, bệnh tật; giữa những người trẻ cho người gia; giữa những người không sinh đẻ (nam giới) và người sinh đẻ (nữ giới); giữa những người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp. Như vậy, BHXH mang bản chất kinh tế và cả bản chất xã hội. Về mặt kinh tế, nhờ sự tô chức phân phối lại thu nhập, đời song của người lao động và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội.
Về mặt xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro” của BHXH, người lao động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra. Ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lay của số đông bù cho số it”; tuy nhiên, tính kinh tế và tinh xã hội của BHXH không tách rời mà đan xen lẫn nhau, bồ trợ và hỗ trợ nhau dé hoàn chỉnh hơn về mặt ý nghĩa của BHXH. Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho người lao động và gia đình họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH, ngược lại, khi nói tới sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải tài chính cho rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH. Đây cũng chính là ý nghĩa nhân văn cao cả, mang đến nhiều ý nghĩa sâu sắc của BHXH.
Và nhờ vậy BHXH chính là trụ cột không thê thiếu của một quốc gia.2 Các loại hình và các chế độ BHXH Luật Bảo hiểm xã hội quy định hai loại hình BHXH đó là: Bảo hiểm xã hội bat buộc: Là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia mang tính bắt buộc dưới mọi hình thức. Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tô chức ma người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất; Tùy theo điều kiện, hệ thống BHXH của mỗi nước có thể có các chế độ BHXH khác nhau trong số 9 chế độ mà Tổ chức Lao động quốc tế quy định. Hiện nay pháp luật BHXH của Việt Nam quy định BHXH có 5 chế độ: Chế độ trợ cấp cho những trường hợp bị ốm đau (gọi tat là chế độ 6m đau); chê độ BHXH cho lao động nữ khi sinh con (gọi tắt là chế độ thai sản); chế độ trợ cấp BHXH cho người lao động bị tai 6 nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (gọi tat là chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp); ché độ bảo hiểm tuôi già (gọi tat là chế độ hưu tri); chễ độ mai táng và trợ cấp mat người nuôi dưỡng (gợi tat là chế độ tử tudt). Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy định cụ thé và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện dé thực hiện BHXH đối với NLĐ.
Chế độ BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật và dưới luật, các thông tư, điều lệ. Theo Công ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Gionevo, theo khuyên nghị của ILO, hệ thống các chế độ BHXH trên thé giới bao gồm 9 chế độ: + Chăm sóc y tế + Trợ cấp 6m đau + Trợ cấp thất nghiệp + Trợ cấp tuôi gia + Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp + Trợ cấp gia đình + Trợ cấp sinh đẻ + Trợ cấp khi tàn phế + Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mat người nuôi dưỡng) Tại Việt Nam, dựa vào hoàn cảnh kinh tế xã hội, chia hệ thống BHXH làm hai loại hình riêng biệt là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NLD va NSDLD phải tham gia theo quy định của Pháp luật. Trong khi đó BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà NLD tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của minh dé được hưởng chế độ BHXH.
Theo điều 4 Luật BHXH số 58/QH13 quy định các chế độ BHXH, BHXH bắt buộc bao gồm 5 chế độ hiện hành, BHXH tự nguyện có 2 chế độ hiện hành, cu thé như sau: - BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ: + Om đau + Thai sản + Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp + Hưu trí + Tử tuất - BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ: + Hưu trí + Tử tuất Nội dung của các chế độ nêu trên được quy định thong nhat trong Luat BHXH. Mỗi một chế độ được xây dựng đều căn cứ vào những cơ sở như: điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện sinh học, môi trường lao động. Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu dưới đây: + Các chế độ được xây dựng theo pháp luật ở mỗi nước + Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính + Chỉ trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH + Mỗi chế độ được chỉ trả đều căn cứ chủ yêu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH + Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chỉ trả và thanh, quyết toán + Phần lớn các chế độ chỉ trả là chỉ trả định kỳ + Mức chỉ trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư an toàn và có hiệu quả thì mức chi trả sẽ cao và 6n định + Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh được hết sự thay đôi của điều kiện kinh tế - xã hội.3 Vai trò của BHXH Tai moi thời điêm va bat kỳ hoàn cảnh nào, rủi ro luôn rình rap, đe doa cuộc sống của mỗi người, gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội.
Rủi ro phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên, bất ngờ, không lường trước được. Và rủi ro có thể đem lại những điều tích cực nhưng cũng có thé dé lại hậu quả to lớn và gây ảnh hưởng đến gia đình, xã hội và những người xung quanh.