CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE DOANH NGHIỆP VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIEN DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VA CÔNG NGHỆ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan các nghiên cứu về doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong trường đại học 1. Tổng quan về doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong trường đại học Các doanh nghiệp mới được thành lập để khai thác nghiên cứu học thuật đã trở thành một hiện tượng kinh tế quan trọng [Markman, Gianiodis, Phan, & Balkin, 2005]. Trên thực tế, các DNKHCN ngày càng được coi là một nguồn phát triển kinh tế khu vực.
Viện Công nghệ Massachusetts là một trong những ví dụ cho các trường đại học có thé đóng góp cho sự phát triển kinh tế. Nhìn chung, việc thúc đây hình thành DNKHCN trong trường đại học hiện nay là cốt lõi của nhiều chính sách kinh tế quốc gia và địa phương [Rasmussen, 2006]. Nghiên cứu của Pirnay và cộng sự tập trung nghiên cứu va phân loại các doanh nghiệp trong trường đại học, theo nghiên cứu của Pirnay và cộng sự, spin-off là một phạm trù khá chung, dùng để mô tả nhiều đối tượng khác nhau và doanh nghiệp spin-off trong trường đại học chỉ là một trường hợp cụ thể [Pirnay & Surlemont, 2003]. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả cũng định nghĩa rằng doanh nghiệp spin-off trong trường đại học là các công ty mới được tạo ra dé khai thác thương mại một số kiến thức, công nghệ hoặc kết quả nghiên cứu được phát triển trong một trường đại học.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả cũng làm rõ quan điểm của các doanh nghiệp spin-off trong trường đại học với các doanh nghiệp khác qua các đặc điểm như đối tượng hữu quan với hoạt động thành lập doanh nghiệp và bản chất của tri thức được chuyền giao từ trường đại học sang doanh nghiệp. Theo các tiếp cận như vậy, nhóm tác giả phân loại doanh nghiệp trong trường đại học thành doanh nghiệp start-up, doanh nghiệp spin-off (hay spin-out), doanh nghiệp slip-out, doanh nghiệp 18 thương mai, dịch vụ và DNKHCN. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng phân loại doanh nghiệp spin —off trong trường dai học thành spin-off học thuật (academic spin-offs) và spin-off sinh viên (student spin-offs). Lautenschläger và các cộng sự nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành lập của các DNKHCN trong trường đại học bằng việc phân tích 54 Văn phòng chuyển giao công nghệ đại hoc (University Technology Transfer Offices - UTTO) tai Đức [Lautenschlager, Haase, & Kratzer, 2014].
Các tác gia chi ra rang mức độ không đồng nhất cao trong trình độ của nhân viên UTTO cũng như van dé tài trợ của các chương trình hiện có có liên quan cao đến sự hình thành các DNKHCN trong trường đại học. Tuy nhiên, dường như vẫn còn thiếu sự đồng thuận đối với tam quan trọng của DNKHCN trong trường đại học như một kênh hiệu quả dé kết quả nghiên cứu đem lại giá trị kinh tế. Ismail và các cộng sự cho rằng thương mại hóa sở hữu trí tuệ (IP), đặc biệt là bang sáng chế trở nên quan trọng trong hau hết các trường đại học. Bang sáng chế được cấp phép thành lập công ty để đổi lấy tiền bản quyền được công nhận là phương thức truyền thống dé thương mại hóa IP của trường đại học khi tài trợ của chính phủ ngày càng bị thu hẹp [Ismail, Mason, & Cooper, 2010].
Các tác giả nghiên cứu trường hợp của một trường đại học ở Scotland với sáu bằng sáng chế được chọn, được cấp phép cho các công ty spin-off. Các nhà phát minh của 6 bằng sáng chế này đã được phỏng van sâu bang cách sử dụng bang câu hỏi bán cau trúc, được ghi lại và sau đó được phiên mã. Dữ liệu sau đó được phân tích tình huống chéo với phần mềm Nvivo. Nghiên cứu cho thấy việc ra quyết định tìm kiếm sự bảo vệ bằng sáng chế được thực hiện bởi các nhà phát minh và Văn phòng chuyền giao công nghệ (TTO).
Mặt khác, quyết định thương mại hóa các bằng sáng chế thông qua việc tạo ra các spin-off được khởi xướng bởi các nhà phát minh, chứ không phải bởi TTO. Các nhà phát minh có kinh nghiệm làm việc trong các công nghiệp trước khi trở thành giáo sư tại trường đại học, đã có thé nhận ra các giá tri tiềm năng của công nghệ của họ. Yếu tố này được coi là có ý nghĩa nhất đã thúc day họ hình thành các spin-off. Kinh nghiệm của họ có nghĩa là họ có kiến thức tốt hơn về thị 19 trường tiềm năng, quy mô thị trường cũng như vị thế của công nghệ của họ trên thị trường.
Các yếu tố quan trọng khác là vai trò và hỗ trợ của Văn phòng chuyền giao công nghệ cũng như sự sẵn có của tài trợ. Kết quả của nghiên cứu này có thê giúp các nhà hoạch định chính sách trong các trường đại học xem xét: các đặc điểm của phát minh và nhà phát minh, sự sẵn có của tài trợ cũng như vai trò của các văn phòng chuyên giao công nghệ trong việc ra quyết định của họ. Nghiên cứu của Caiazza và các cộng sự cho thấy quá trình phát triển của các DNKHCN từ Hoa Kỳ cho đến các quốc gia khác trên thế giới ở Châu Âu và Châu Á [Caiazza, Audretsch, Volpe, & Singer, 2014]. Bat dau tir những năm 1980, nhiều quốc gia đã thực hiện một loạt cải cách nhằm khuyến khích hoạt động spin-off thông qua sự tương tác giữa các Viện nghiên cứu công và các doanh nghiệp.
Ở các nước phát triển, các chính sách nhằm thúc day và thương mại hóa nghiên cứu đã dẫn đến việc tạo ra các cụm, vườn ươm và công viên khoa học. Những chính sách nay cũng đã cải cách hệ thống giáo dục và luật pháp điều chỉnh và thúc day chuyên giao công nghệ. Việc sử dụng nghiên cứu công cộng trong các doanh nghiệp đã cải thiện chất lượng nghiên cứu bằng cách thiết lập các khuyến khích hiệu suất cho các nhà nghiên cứu và cũng tăng cường hợp tác giữa các Viện nghiên cứu công và các doanh nghiệp. Ở châu Á, khả năng cải thiện đầu tư R&D để hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu các Viện nghiên cứu công và thương mại hóa kết quả nghiên cứu đang trở nên quan trọng đối với khả năng cạnh tranh và tăng trưởng của một số khu vực châu Á.
Các chính phủ châu Á đang nỗ lực để đạt được các mục tiêu trung và đài han dé phát triển và hợp tác nghiên cứu. Giibeli và Doloreux (2005) nghiên cứu quy trình mà một doanh nghiệp mới được tạo ra và hình thành từ một trường đại học bằng cách nghiên cứu ba trường hợp từ trung tâm nghiên cứu tại Đại học Linkoping trong lĩnh vực trực quan hóa và đồ họa máy tính từ các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc [Gibeli & Doloreux, 2005]. Kết quả cho thay tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các trường đại học, với tổ chức chủ quan và bên ngoài. Tổ chức chủ quản đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành DNKHCN trong trường đại học, đặc biệt là trong giai đoạn đầu 20 khi ý tưởng kinh doanh xuất hiện, bằng cách hỗ trợ cơ sở hạ tầng và chuyên môn trong một cố vấn cụ thé.
Đối với các trường đại học và các tô chức nghiên cứu công, nên đóng vai trò tích cực hơn trong quá trình hình thành DNKHCN trong trường đại học ngay từ giai đoạn ươm mầm. Ndonzuau và cộng sự cho rang với vai trò xúc tác của các DNKHCN trong việc sáng tạo và chuyên giao kiến thức, DNKHCN trong các trường đại học là một trong những kênh hứa hẹn nhất để chuyển kết quả nghiên cứu từ học viện sang ngành công nghiệp [Ndonzuau, Pirnay, & Surlemont, 2002]. Họ góp phần thực hiện nhanh chóng và trực tiếp kiến thức mới vào giá trị kinh tế thông qua sự xuất hiện của các sản phẩm va dich vu sáng tạo. Theo đó, ty lệ hình thành DNKHCN từ các trường đại học thường được coi là một chỉ số chính cho chất lượng và hiệu suất của chuyên giao công nghệ và của các tô chức liên quan.
Feldman và Klofsten lập luận rằng trường đại học cung cấp nén tang chi phí thấp cho những người quản lý dé tích lũy kiến thức về thiết kế, khách hàng và ứng dụng trực tiếp và là một nguồn R & D quan trọng với công nghệ tiên tiễn [Feldman & Desrochers, 2003]. Ngoài ra, Tesfaye (1997) giải thích rang spin-off có thê được hưởng lợi từ mạng lưới địa phương của trường đại học, có thé được coi là một cửa ngõ quan trọng cho các liên hệ bên ngoài, bao gồm văn phòng chính phủ, chuyên gia, nhà đầu tư và khách hàng [Tesfaye, 1997]. Elfring và Hulsink cho rằng các DNKHCN trong trường đại học trở nên gắn kết hơn trong các mối quan hệ xã hội và kinh tế đang diễn ra và phụ thuộc rất nhiều vào chương trình hỗ trợ và dịch vụ ươm tạo được cung cấp bởi trường đại học nơi doanh nghiệp được thành lập và môi trường địa phương [Elfring & Hulsink, 2003]. Pattnaik và Pandey tông quan các nghiên cứu trước đó, và cho rằng có 3 mô hình tao ra spin-off ở các trường đại học dang được chấp nhận rộng rãi [Pattnaik & Pandey, 2014].
Mô hình đầu tiên được phát triển bởi Ndonzuau, Pirnay, và Surlemont (2002), mô hình xác định bốn giai đoạn quan trọng trong việc phát triển các doanh nghiệp spin-off: i) tạo ra một ý tưởng kinh doanh khả thi, ii) chuyển ý tưởng thành quy trình kinh doanh, iii) tạo ra một công ty và iv) đóng góp giá tri cho 21 khách hàng, nhân viên, nhà đầu tư và tất cả các bên liên quan khác (cả nội bộ và bên ngoài). Mô hình thứ hai được phát triển bởi Shane bao gồm năm giai đoạn trong quá trình điển hình tạo ra doanh nghiệp spin-off [Shane, 2004]. Giai đoạn đầu tiên hoàn toàn mang tính học thuật nhưng mô hình cũng cho phép các công nghệ có tiềm năng tạo ra các sản phâm và dịch vụ mới. Trong trường hợp nhà nghiên cứu tin rằng công nghệ mới của họ có thé được thương mại hóa, sau đó họ tiết lộ nó cho văn phòng cấp phép công nghệ của trường đại học.
Trong giai đoạn thứ ba, tiềm năng bảo vệ sở hữu trí tuệ được đánh giá và một đơn xin cấp băng sáng chế có thể được thực hiện. Dựa trên sự độc quyén hạn chế thông qua bang sáng chế, văn phòng chuyển giao công nghệ có thê cấp phép công nghệ cho một công ty được thành lập hoặc nhà nghiên cứu có thể thành lập một công ty spin-off. Mô hình thứ ba được phát triển bởi Vohora và cộng sự, mô hình này gồm năm giai đoạn. Trong đó, bắt đầu từ sự nhận diện cơ hội kinh doanh đến việc cam kết đem lại lợi nhuận bền vững [Vohora, Wright, & Lockett, 2004].