CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 1. Khái niệm về tạo động lực và các yếu tố ảnh hưởng tới tạo động lực lao động 1. Khái niệm tạo động lực Theo khái niệm của Giáo trình Quản trị nhân lực (ThS. Nguyền Vân Điếm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (2004), NXB Lao động - xã hội, trang 134) viết: “động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tố chức”.
Cũng có thể hiểu theo một cách khác như sau: “động lực của người lao động là những nhân tổ bên trong kích thích con người nồ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sằn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu cùa to chức cũngnhư của bản thân người lao động” Điều đó cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm động lực lao động thế nhưng các nhà quản lý thường thống nhất ở một số điểm sau: Động lực là thứ mà không thể nhìn thấy mà chỉ có thể biết được thông qua việc quan sát hành vi của người lao động đề rồi có the nhận biết. Hon nữa, nó rất khác nhau giữa các cá nhân và ngay cả trong một cá nhân, vào những thời điểm khác nhau thì động lực cũng khác nhau. Động lực luôn chịu sự tác động của môi trường lao động, của công việc.
Động lực xuất phát từ bên trong bản thân người lao động nhưng lại không phải là đặc điềm tính cách cá nhân. Nghiên cứu động lực lao động chính là trả lời cho câu hỏi vì sao người lao động lại làm việc hiệu quả đến vậy. Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đối, động lực sè dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn (năng suất, hiệu quả công việc còn phụ thuộc vào năng lực của cá nhân người lao động). Người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc.
Tuy nhiên, nếu người lao động không có động lực khi làm việc thì họ sẽ làm việc mà không có hứng thú, sự say mê, vì vậy họ dễ có xu hướng thực 1 hiện công việc như hoàn thành một nghĩa vụ, vì vậy họ không phát huy hết khả năng sáng tạo, tiềm năng của bản thân. Tạo động lực được hiếu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có độnglực trong công việc. Tạo động lực cho người lao động là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý. Một khi người lao động có động lực làm việc, thì sẽ tạo khả năng tiềm năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác.
Xét theo quan điểm nhu cầu, quá trình tạo động lực của người lao động bao gom các bước được trình bày: Hình 1. 1: Các bước cua quá trình tạo động lực cho người lao động Nhu cầu không được thoả mãn tạo ra sự căng thăng, và sự căng thang thường kích thích những động cơ bên trong các cá nhân. Những động cơ này tạo ra một cuộc tìm kiếm nhằm có được các mục tiêu cụ the mà, nếu đạt được, sẽ thoả mãn nhu cầu này và dẫn đến giảm căng thắng. Các nhân viên được tạo động lực thường ở trong tình trạng căng thắng.
Đe làm dịu sự căng thẳng này, họ tham gia vào hoạt động. Mức độ căng thẳng càng lớn thì càng cần phải có hoạt động để làm dịu căng thẳng. Vì vậy, khi thấy các nhân viên làm việc chăm chỉ trong một hoạt động nào đó, chúng ta có thế kết luận rằng họ bị chi phối bởi một sự mong muốn đạt được một mục tiêu nào đó mà họ cho là có giá trị. Các yếu tố ảnh hưởng tói tạo động lực lao động Động lực lao động chịu tác động và ảnh hưởng của nhiều nhân tố: ❖ Nhóm yếu tố thuộc về người lao động: - Mục tiêu các nhân; - Hệ thống nhu cầu của các nhân; - Sự khác biệt về khả năng, kinh nghiệm, nhận thức; - Sự khác biệt về đặc diem các nhân; 2 - Tình trạng kinh tế của cá nhân.
❖ Nhóm yếu tố thuộc về công việc: - Đòi hỏi về kỹ năng nghề nghiệp; - Mức độ chuyên môn hóa của công việc; - Mức độ phức tạp của công việc; - Sự mạo hiểm và mức độ rủi ro của công việc; - Mức độ hao phí về trí lực. ❖ Nhóm yếu tố thuộc về tố chức: - Mục tiêu, chiến lược của tổ chức; - Văn hóa tố chức; - Lãnh đạo (quan điếm, phong cách, phương pháp); - Quan hệ nhóm; - Các chính sách liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động. ❖ Nhóm yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài tổ chức: - Các yếu tố thuộc về ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động; - Các yếu tố thuộc về văn hóa, dân tộc; - Các yếu tố thuộc về pháp luật, chính trị. Lý thuyết quản trị nguồn nhân lực 1.
Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của quản trị nguồn nhân lực Nguồn nhân lực cùa một tố chức dược hình thành trên cơ sờ của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất con người, nhân viên có năng lực, đặc diem cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tố chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh. Quản trị nguồn nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong các tố chức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản: 3 a) Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức.
b) Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với doanh nghiệp. Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp cho nhà quản trị đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác. Một quản trị gia có thể lập kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiếm tra hiện đại, chính xác, v. nhưng nhà quản trị đó vẫn có thể thất bại nếu không biết tuyển đúng người cho đúng việc hoặc không biết cách khuyến khích nhân viên làm việc.
Đe quản trị có hiệu quả, nhà quản trị cần biết cách làm việc và hoà hợp với người khác, biết cách lôi kéo người khác làm theo mình. Nhiều khi các quản trị gia có thế mạnh trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhưng lại không được đào tạo hoàn chỉnh trong cách lãnh đạo nhân viên. Họ điều khiến giỏi và dành nhiều thời gian làm việc với các máy móc, trang bị kỹ thuật hơn làm việc với con người. Thực tế cho thấy, một lãnh đạo giỏi cần phải dành nhiều thời gian nghiên cứu giải quyết các vấn đềnhân sự hơn các vấn để khác.
Nghiên cứu quản trị nguồn lực giúp cho các nhà quản trị học được cách giao dịch với người khác, biết tìm ra ngôn ngữ chung và biết cách nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh được các sai lầm trong tuyến chọn, sử dụng nhân viên, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của các cá nhân, nâng cao hiệu quả của tổ chức và dần dần có thể đưa chiến lược con người trở thành một bộ phận hữu cơ trong chiến lược kinh doanh cùa doanh nghiệp. Như vậy, về mặt kinh tế, quản trị nguồn nhân lực giúp cho doanh nghiệp khai thác các khả năng tiểm tàng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp về nguồn nhân lực. về mặt xã hội, quản trị nguồn nhân lực thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích giữa to chức, doanh nghiệp và người lao động, góp phần làm giảm bớt mâu thuẫn tư bản - lao động trong các doanh nghiệp. Đe phát 4 triến bền vững và quản trị cấp dưới hiệu quả, tất cả các nhà quản trị cần có nhận thức, hiếu biết vầ kỹ năng quản trị nguồn nhân lực phù hợp.
Các chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực Hoạt động quản trị nguồn nhân lực liên quan đến tất cả các vấn đề thuộc về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao cho cả tố chức lần nhân viên. Trong thực tiễn, những hoạt động này rất đa dạng, phong phú và rất khác biệt tùy theo các đặc điểm về cơ cấu tổ chức, công nghệ kỹ thuật, nhân lực, tài chính, trình độ phát triển ở các tố chức. Hầu như tất cả các tố chức đều phải thực hiện các hoạt động cơ bản như: xác định nhu cầu nhân viên, lập kế hoạch tuyển dụng, bo trí nhân viên, đào tạo, khen thưởng kỷ luật nhân viên, trả công, v. Tuy nhiên có thế phân chia các hoạt động chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực theo ba nhóm chức năng chủ yếu sau đây: a) Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực.
Nhóm chức năng này chú trọng vẫn để đảm bảo có đủ số lượng nhân viên với các phẩm chất phù họp cho công việc của doanh nghiệp. Đổ có thể tuyển được đúng người cho đúng việc, trước hết doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất, kinh doanh và thực trạng sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp nhằm xác định được những công việc nào cần tuyến thêm người. b) Nhóm chức năng đào tạo, phát triển. Chú trọng việc nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có các kỹ năng, trinh độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tối đa các năng lực cá nhân.
Các doanh nghiệp áp dụng chương trình hướng nghiệp và đào tạo cho nhân viên mới nhằm xác định năng lực thực tế của nhân viên và giúp nhân viên làm quen với công việc của doanh nghiệp.