CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Sự hài lòng trong công việc Sự hài lòng được định nghĩa là mức độ mong muốn mà người ta nhận được (12). Theo Trường Đại học Oxford “Sự hài lòng với công việc là cảm giác hay đáp ứng cảm xúc mà con người trải qua khi thực hiện một công việc”.
Chúng ta có thể có những cảm xúc tiêu cực về một khía cạnh nào đó của công việc (như tiền lương) nhưng cảm xúc tích cực về những mặt khác (như đồng nghiệp). Sự hài lòng với công việc cần được xem xét ở cả hai mặt nguyên nhân và ảnh hưởng của các thay đổi về tổ chức (13). Định nghĩa của Weiss về hài lòng đối với công việc là một trạng thái, cảm giác từ sự đánh giá kết quả về một công việc; một cảm xúc phản ứng lại công việc của họ; một thái độ, một quan điểm đối với công việc. Weiss cho rằng sự hài lòng đối với công việc là một thái độ nhưng cần phân biệt rõ ràng đối tượng của nhận thức đó ảnh hưởng đến cảm xúc, niềm tin và hành vi.
Định nghĩa này đưa ra rằng chúng ta Biểu đồ thành thái độ, quan điểm với công việc bằng cách xem xét cảm giác, niềm tin và hành vi (14, 15). Nhân viên y tế Theo WHO (2006), nhân lực y tế là tất cả những người tham gia vào những hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe của người dân. Nhân viên y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: Bác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên khác: Nhân viên kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý. Họ góp phần quan trọng và quyết định thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế (16-18).
Theo định nghĩa của Bộ Y tế “Nhân viên y tế là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (kể cả công và tư, kể cả biên chế và hợp đồng)”. Việc phân loại các nhân viên y tế tại Việt Nam dựa trên các tiêu chí về 4 giáo dục và đào tạo nghề, quy định về chuyên môn y tế và các hoạt động, nhiệm vụ liên quan trong công việc (19). Sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế 5 Theo tác giả: Sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế là mức độ mong muốn của nhân viên y tế về môi trường làm việc; lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp; quy chế nội bộ, tiền lương, phúc lợi; công việc, cơ hội học tập và thăng tiến. Phòng khám đa khoa Phòng khám hay phòng mạch hoặc phòng khám ngoại trú, phòng khám chăm sóc cấp cứu là một cơ sở chăm sóc sức khỏe chủ yếu là dành cho việc chăm sóc bệnh nhân ngoại trú hay nói cách khác, một phòng khám nói chung là một kiểu bệnh viện cung cấp chẩn đoán hoặc điều trị một cộng đồng chung mà bệnh nhân thường không ở lại qua đêm.
Phòng khám có thể được tư nhân điều hành và được quản lý công khai, Biểu đồ thành do tài trợ, và thường bao gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chủ yếu của cộng đồng địa phương, trái ngược với các bệnh viện lớn nơi thực hiện các phương pháp điều trị chuyên ngành và cho bệnh nhân nội trú cho ở lại qua đêm (20). Đối với phòng khám đa khoa cần đáp ứng các điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động (theo quy định tại Điều 25 Nghị định 109/2016/NĐ-CP) (21) như sau: 1. Cơ sở vật chất: a) Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình, bảo đảm đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa, làm vệ sinh. b) Có nơi tiếp đón, phòng cấp cứu, phòng lưu người bệnh, phòng khám chuyên khoa và phòng tiểu phẫu (nếu thực hiện tiểu phẫu).
Các phòng khám trong phòng khám đa khoa phải đáp ứng các yêu cầu ít nhất về diện tích như sau: – Phòng cấp cứu có diện tích ít nhất là 12 m2; – Phòng lưu người bệnh có diện tích ít nhất là 15 m2; có ít nhất từ 02 giường lưu trở lên, nếu có từ 03 giường lưu trở lên thì diện tích phải bảo đảm ít nhất là 05 m2 trên một giường bệnh; – Các phòng khám chuyên khoa và buồng tiểu phẫu có diện tích ít nhất là 10 m2. 6 c) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật. d) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh. Thiết bị y tế: a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà phòng khám đa khoa đăng ký; b) Có hộp thuốc chống sốc và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa.
Nhân sự: a) Số lượng bác sỹ khám bệnh, chữa bệnh hành nghề cơ hữu phải đạt tỷ lệ ít nhất là 50% trên tổng số bác sỹ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa. b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải đáp ứng các điều kiện sau đây: – Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà phòng khám đa khoa đăng ký; – Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng. Việc phân công, bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải được thể hiện bằng văn bản; – Là người hành nghề cơ hữu tại phòng khám đa khoa. c) Số lượng người làm việc, cơ cấu, chức danh nghề nghiệp của phòng khám đa khoa thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa các đối tượng khác làm việc trong phòng khám đa khoa nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề, việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó. Đối với phòng khám đa khoa có thực hiện khám sức khỏe thì phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 6 Điều 23 Nghị định 109/2016/NĐ-CP. Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình thực hiện theo quy định thí điểm của Bộ trưởng Bộ Y tế. Một số thang đo về sự hài lòng trong công việc Thang đo chỉ số mô tả công việc (Job Descriptive Index - JDI) ban đầu được phát triển bởi Smith, Kendall và Hulin (1969) để đo lường sự hài lòng trong công việc.Thang đo này đã được sửa đổi vào các năm 1985, 1997 và gần đây nhất là vào năm 2009.
Thang đo JDI bao gồm một loạt tính từ và phát biểu do nhân viên đánh giá; đo lường 05 khía cạnh của sự hài lòng trong công việc: Quản lý/giám sát, tiền lương, cơ hội thăng tiến, đồng nghiệp và bản thân công việc (22). Năm 1967 Weiss, Dawis, England và Lofquist đã phát triển thang đo về sự hài lòng với công việc (Minnesota Satisfaction Questionnaire - MSQ). Thang đo gồm có 20 câu về sử dụng năng lực, kết quả đạt được, hoạt động, cơ hội thăng tiến, quyền hạn, chính sách cơ quan, đền bù, đồng nghiệp, sáng tạo, sự độc lập, giá trị đạo đức, sự công nhận, trách nhiệm, an toàn, địa vị xã hội, dịch vụ xã hội, giám sát – quan hệ con người, giám sát – kỹ thuật, đa dạng, và điều kiện làm việc. Thang đo được tính điểm trên thang Likert-05 mức độ: 5 (cực kỳ hài lòng), 4 (rất hài lòng), 3 (hài lòng), 2 (hài lòng một chút), 1 (không hài lòng) (23).
Ngày 28 tháng 08 năm 2019, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 3869/QĐ- BYT về các mẫu phiếu và hướng dẫn khảo sát hài lòng người bệnh và nhân viên y tế nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đáp ứng sự hài lòng người bệnh, và cải tiến môi trường làm việc của nhân viên y tế. Trong đó, mẫu phiếu số 03 được sử dụng để khảo sát ý kiến của nhân viên y tế. Mẫu phiếu này áp dụng đối với các bệnh viện công lập và tư nhân. Mẫu phiếu gồm có 02 cấu phần chính: thông tin người điền phiếu và đánh giá sự hài lòng về bệnh viện (sự hài lòng về môi trường làm việc gồm có 9 tiểu mục; sự hài lòng về lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp gồm có 9 tiểu mục; sự hài lòng về quy chế nội bộ, tiền lương, phúc lợi gồm có 12 tiểu mục; sự hài lòng về công việc, cơ hội học tập và thăng tiến gồm có 7 tiểu mục; và sự hài lòng chung về bệnh viện gồm có 7 tiểu mục).
Mỗi tiểu mục được đánh giá theo 5 mức độ từ rất không hài lòng, không hài lòng, bình thường, hài lòng, rất hài lòng (24). Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng bộ công cụ là mẫu phiếu số 3 Quyết định số 3869/QĐ-BYT. Tuy nhiên, chúng tôi có lược bỏ bớt một số tiểu mục 8 không phù hợp với quy mô của PKĐKSGLK. Đây là bộ công cụ đã được một số nghiên cứu trong nước sử dụng để đánh giá sự hài lòng của nhân viên y tế trong công việc.
Ngoài ra, bộ công cụ này có từ ngữ thông dụng, dễ hiểu, dễ áp dụng và được nhiều cở sở y tế áp dụng. Các nghiên cứu về thực trạng sự hài lòng trong công việc và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Nghiên cứu của Laubach W & Fischbeck S (2007) tại một bệnh viện trường Đại học ở Đức đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao sự hài lòng của bác sỹ trong công việc. Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện làm việc, cấp trên, hệ thống thứ bậc, tính minh bạch và sự tham gia đưa ra các quyết định là những yếu tố liên quan đến sự hài lòng của bác sỹ tại bệnh viện (25).
Năm 2005, Kebriaei A và Moteghedi M.S đã tiến hành khảo sát trên 76 nhân viên y tế công cộng ở Farsi, làm việc tại 44 trạm y tế thôn trong quận Zahedan, tỉnh Sistan và Baluchestan, nước cộng hoà hồi giáo Iran. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thoả mãn chung trong công việc là 40,5%, trong đó thoả mãn với bản thân công việc là 70,3%; đồng nghiệp là 60,9%; quản lý là 27%; khối lượng công việc là 23%; thăng tiến là 12,2%; cơ cấu tổ chức là 6,8%; điều kiện làm việc là 5,4% và thoả mãn với lương, phúc lợi là 4,1% (26).